
Những ý kiến về việc tách Lịch sử và Địa lý, tổ chức lại môn Khoa học tự nhiên đang đặt ra yêu cầu đánh giá toàn diện hiệu quả dạy học tích hợp. Trọng tâm của quá trình rà soát cần hướng đến tính logic của nội dung, năng lực đội ngũ giáo viên và khả năng tiếp nhận của học sinh, qua đó lựa chọn cấu trúc môn học phù hợp với mục tiêu phát triển năng lực.

Sau quá trình triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc tổ chức các môn học tích hợp tiếp tục nhận được nhiều ý kiến từ giáo viên và chuyên gia giáo dục. Bên cạnh mục tiêu giúp học sinh kết nối kiến thức, thực tiễn giảng dạy cho thấy những khó khăn về phân công chuyên môn, phối hợp giữa giáo viên và thiết kế hoạt động học tập liên ngành. Những vướng mắc này là cơ sở để xem xét mức độ phù hợp giữa định hướng chương trình với điều kiện thực hiện tại nhà trường.
Các kiến nghị hiện nay đề cập cả phương án tổ chức lại thành những môn độc lập lẫn yêu cầu nâng cao chất lượng tích hợp trong cấu trúc hiện hành. Dù lựa chọn hướng điều chỉnh nào, việc rà soát vẫn cần trả lời những câu hỏi nền tảng: Học sinh cần nắm vững kiến thức gì, những nội dung nào có mối liên hệ thực chất và nhà trường có thể tổ chức dạy học như thế nào để đạt được yêu cầu đó?
Từ thực tiễn lớp học đến yêu cầu xác định lại mức độ tích hợp
Những phản ánh từ cơ sở cho thấy hiệu quả dạy học tích hợp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi đặc điểm người học. Tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đinh Núp, xã Pờ Tó, tỉnh Gia Lai, thầy Vũ Văn Tùng lưu ý sự khác biệt về vốn tiếng Việt, khả năng đọc hiểu và kiến thức nền của học sinh. Ở những địa bàn còn khó khăn, đây là các yếu tố cần được tính đến khi xác định nội dung, tiến độ và yêu cầu của nhiệm vụ học tập.
Khả năng kết nối kiến thức giữa nhiều lĩnh vực đòi hỏi học sinh phải có nền tảng nhất định trong từng lĩnh vực. Khi khái niệm cơ bản chưa được hiểu đầy đủ hoặc việc đọc hiểu đề bài còn hạn chế, nhiệm vụ liên môn có thể làm tăng khó khăn trong tiếp nhận. Vì vậy, thiết kế dạy học cần có trình tự phù hợp, giúp học sinh hình thành kiến thức nền trước khi vận dụng vào những vấn đề có nhiều thành phần.
Từ góc độ tổ chức môn học, thầy Phạm Hoài Nam, giáo viên Ngữ văn tại Thành phố Hồ Chí Minh, kiến nghị nghiên cứu tách Lịch sử và Địa lý thành hai môn độc lập, đồng thời xem xét phương án tổ chức Khoa học tự nhiên thành Vật lý, Hóa học và Sinh học. Kiến nghị này xuất phát từ yêu cầu đối chiếu nội dung giảng dạy với chuyên môn được đào tạo của giáo viên và những khó khăn trong quá trình triển khai.
Theo đó, khi giáo viên có nền tảng chuyên sâu ở một lĩnh vực nhưng được giao đảm nhiệm thêm nội dung thuộc lĩnh vực khác, cần đánh giá cụ thể mức độ đáp ứng về kiến thức và phương pháp giảng dạy. Yêu cầu chuyên môn không chỉ nằm ở khả năng trình bày đúng nội dung sách giáo khoa mà còn bao gồm việc giải thích bản chất khái niệm, nhận diện sai lệch trong cách hiểu của học sinh và lựa chọn hoạt động học tập phù hợp.
Việc xem xét cấu trúc Lịch sử và Địa lý cần đi cùng đánh giá môn Khoa học tự nhiên. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu rà soát có tính hệ thống, trong đó từng môn học được xem xét theo đặc điểm chuyên môn nhưng vẫn bảo đảm sự nhất quán về định hướng tổ chức chương trình.
Ở góc độ chuyên gia, PGS.TS. Trần Thành Nam nhìn nhận một vướng mắc đáng chú ý là sự kết nối giữa các lĩnh vực chưa thật sự chặt chẽ. Khi mỗi giáo viên phụ trách một phần theo chuyên môn riêng mà thiếu sự phối hợp, học sinh có thể tiếp nhận các nội dung như những phần kiến thức rời nhau. Việc đặt chung trong một môn học khi đó chưa đủ tạo ra trải nghiệm học tập có tính liên kết.
Tuy nhiên, theo ông, định hướng kết nối tri thức liên ngành thông qua STEM, STEAM vẫn cần được duy trì. Điều này cho thấy cần phân biệt giữa cấu trúc hành chính của môn học và phương pháp tổ chức học tập. Các môn độc lập vẫn có thể phối hợp trong một chủ đề chung; ngược lại, một môn mang tên tích hợp vẫn cần được thiết kế cẩn thận để học sinh nhận ra quan hệ giữa những nội dung được học.
PGS.TS. Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa tích hợp thực chất với việc tập hợp nhiều môn dưới một tên gọi. Đối với Khoa học tự nhiên, nếu các mạch kiến thức Vật lý, Hóa học và Sinh học vẫn được triển khai tách biệt, ít liên hệ trong hoạt động học tập, mục tiêu tích hợp sẽ khó thể hiện rõ. Lựa chọn nội dung vì vậy phải bảo đảm tính khoa học, có trọng tâm và hạn chế trùng lặp.
Mối liên hệ có ý nghĩa cần giúp học sinh hiểu sâu hơn hoặc giải quyết được vấn đề mà kiến thức riêng lẻ chưa giải thích đầy đủ. PGS.TS. Phạm Mạnh Hà cho rằng việc kết nối phải dựa trên quan hệ logic giữa các lĩnh vực. Chẳng hạn, khi tìm hiểu một sự kiện lịch sử, kiến thức về địa hình, vị trí và không gian có thể giúp học sinh lý giải bối cảnh diễn ra sự kiện. Đây là cơ sở để thiết kế nội dung liên môn ở những phần phù hợp, đồng thời vẫn duy trì yêu cầu kiến thức đặc thù của từng lĩnh vực.
Với Khoa học tự nhiên, những hiện tượng cần huy động đồng thời kiến thức vật lý, hóa học và sinh học có thể trở thành chủ đề tích hợp. Tuy vậy, các khái niệm nền tảng, phương pháp nghiên cứu và trình tự hình thành kiến thức của mỗi lĩnh vực vẫn cần được trình bày rõ ràng. Mức độ tích hợp chỉ phù hợp khi hỗ trợ quá trình hiểu và vận dụng, đồng thời bảo đảm học sinh có đủ cơ sở để theo dõi lập luận.
Đồng bộ chương trình, đội ngũ và đánh giá trước khi điều chỉnh cấu trúc môn học
Việc thay đổi cấu trúc môn học kéo theo nhiều yêu cầu chuyên môn và tổ chức. Nếu lựa chọn phương án tách môn, chương trình cần xác định lại phạm vi nội dung, yêu cầu cần đạt, trình tự kiến thức và thời lượng của từng môn. Việc phân chia phải bảo đảm tính hoàn chỉnh của mỗi lĩnh vực, tránh để xuất hiện khoảng trống, sự trùng lặp hoặc mất cân đối giữa khối lượng kiến thức với thời gian giảng dạy.
Đối với phương án tổ chức Khoa học tự nhiên thành Vật lý, Hóa học và Sinh học, cần làm rõ lộ trình hình thành khái niệm và kỹ năng ở từng lớp. Những kiến thức có quan hệ hỗ trợ giữa các môn cũng cần được sắp xếp hợp lý để học sinh có thể sử dụng khi cần. Tương tự, nếu Lịch sử và Địa lý được tổ chức độc lập, các chủ đề có khả năng kết nối vẫn cần được xác định trong kế hoạch dạy học, giúp người học vận dụng kiến thức về thời gian, không gian và bối cảnh.
Nếu tiếp tục duy trì cấu trúc tích hợp, chương trình và sách giáo khoa cần thể hiện rõ hơn mục đích kết nối của từng chủ đề. Một nội dung tích hợp phải xác định được vấn đề chung, đóng góp của từng lĩnh vực và kết quả học tập mong đợi. Trên cơ sở đó, giáo viên mới có thể tổ chức hoạt động liền mạch, thay vì lần lượt giảng dạy các phần riêng rồi yêu cầu học sinh tự tìm ra mối liên hệ.
Sự điều chỉnh này cần đi cùng cơ chế phối hợp chuyên môn. Khi nhiều giáo viên cùng phụ trách một môn, nhà trường cần tạo điều kiện để thống nhất kế hoạch, tiến độ và tiêu chí đánh giá. Việc trao đổi phải làm rõ kiến thức nào học sinh đã được học, nội dung nào cần được củng cố và thời điểm thích hợp để triển khai nhiệm vụ liên môn. Nếu thiếu sự phối hợp, tính thống nhất của chương trình có thể bị suy giảm ngay trong quá trình thực hiện.
Năng lực đội ngũ là điều kiện cần được đánh giá cụ thể trước khi quyết định phương án tổ chức. Với cấu trúc tách môn, nhà trường phải xem xét khả năng bố trí giáo viên theo chuyên môn, số tiết và thời khóa biểu. Với cấu trúc tích hợp, cần xác định yêu cầu bồi dưỡng về kiến thức liên quan, phương pháp thiết kế chủ đề và cách hướng dẫn học sinh huy động tri thức từ nhiều lĩnh vực. Hoạt động bồi dưỡng cần gắn với những nhiệm vụ giảng dạy thực tế mà giáo viên sẽ đảm nhiệm.
Điều kiện học tập của học sinh cũng phải được đưa vào quá trình thẩm định. Những khác biệt về ngôn ngữ, kiến thức nền và khả năng tự học có thể làm thay đổi hiệu quả của cùng một cách tổ chức. Vì vậy, chương trình cần có yêu cầu rõ ràng nhưng vẫn tạo điều kiện để giáo viên lựa chọn phương pháp hỗ trợ phù hợp. Ở các địa bàn khó khăn, việc củng cố đọc hiểu, giải thích thuật ngữ và hướng dẫn từng bước có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng tham gia của học sinh.
Kiểm tra, đánh giá cần được rà soát đồng thời với nội dung và phương pháp dạy học. Đối với các chủ đề tích hợp, nhiệm vụ đánh giá phải làm rõ học sinh có thể kết nối và vận dụng kiến thức đến đâu. Một đề kiểm tra gồm các phần riêng biệt của nhiều lĩnh vực có thể phản ánh kiến thức thành phần, nhưng cần thêm những nhiệm vụ phù hợp để xem xét năng lực liên hệ và giải quyết vấn đề.
Trong trường hợp tách môn, đánh giá vẫn cần bảo đảm yêu cầu kiến thức, kỹ năng đặc thù và tạo cơ hội vận dụng vào thực tiễn. Cấu trúc môn học độc lập không làm mất đi nhu cầu sử dụng tri thức liên ngành. Điều quan trọng là xác định đúng mục tiêu của từng nhiệm vụ, tránh yêu cầu kết nối khi học sinh chưa có đủ nền tảng hoặc đánh giá những nội dung chưa được tổ chức học tập phù hợp.
Để lựa chọn phương án có cơ sở, quá trình rà soát cần tổng hợp bằng chứng từ kết quả học tập, mức độ đáp ứng của giáo viên và điều kiện tổ chức tại các nhóm trường. Những phản ánh về quá tải, khó bố trí giảng dạy hay thiếu liên kết kiến thức cần được phân tích theo nguyên nhân cụ thể. Qua đó, có thể xác định vấn đề nằm ở cấu trúc chương trình, nội dung sách giáo khoa, phương pháp triển khai hay nguồn lực thực hiện.
Các ý kiến từ giáo viên và chuyên gia cho thấy yêu cầu chung là nâng cao chất lượng học tập và bảo đảm tính khả thi của chương trình. Việc điều chỉnh Lịch sử và Địa lý, Khoa học tự nhiên cần hướng đến một cấu trúc trong đó kiến thức nền tảng được tổ chức mạch lạc, những mối liên hệ có giá trị được khai thác và giáo viên có đủ điều kiện thực hiện. Đây là căn cứ để quyết định mức độ tích hợp phù hợp, đồng thời bảo đảm những thay đổi về chương trình tạo ra cải thiện thực chất trong lớp học.
Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:
– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.
– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.
– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.
– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.
– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.
– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.
cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.

