
Kết thúc Hội nghị Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo năm 2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn yêu cầu toàn ngành chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị phát triển, lấy dữ liệu, hiệu quả thực tế và sự tiến bộ của người học làm căn cứ điều hành. Bên cạnh việc ghi nhận những kết quả của năm học 2025–2026, hội nghị cũng thẳng thắn chỉ ra các điểm nghẽn kéo dài, từ chênh lệch chất lượng giáo dục, thiếu giáo viên cục bộ đến bệnh thành tích, áp lực sổ sách và những biểu hiện tiêu cực trong thi cử.

Từ những kết quả nền tảng đến yêu cầu khắc phục các điểm nghẽn kéo dài
Sau hai phiên làm việc, Hội nghị Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo năm 2026 đã hoàn thành chương trình đề ra, tập trung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2025–2026, nhận diện những vấn đề lớn của ngành và thống nhất định hướng trọng tâm cho năm học 2026–2027.
Phát biểu kết luận hội nghị, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm cùng những ý kiến sâu sắc, sát thực tiễn của đại diện các địa phương. Theo Bộ trưởng, các tham luận không chỉ phản ánh tương đối đầy đủ tình hình giáo dục tại cơ sở mà còn thể hiện quyết tâm đổi mới, khát vọng phát triển và trách nhiệm của đội ngũ quản lý đối với sự nghiệp giáo dục.
Năm học 2025–2026 diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn đối với chất lượng nguồn nhân lực. Đặc biệt, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tạo cơ sở chính trị quan trọng để toàn ngành chuyển từ tư duy quản lý sang quản trị phát triển, lấy chất lượng, hiệu quả và người học làm trung tâm.
Trong điều kiện khối lượng công việc lớn, yêu cầu triển khai cao và thời gian thực hiện ngắn, ngành Giáo dục vẫn đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công tác tham mưu xây dựng thể chế, cơ chế và chính sách tiếp tục được thúc đẩy, qua đó từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ đổi mới giáo dục. Nhiều chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã được cụ thể hóa, giúp các địa phương chủ động hơn trong tổ chức, quản trị và phát triển hệ thống giáo dục.
Chất lượng giáo dục có những chuyển biến tích cực. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được triển khai cơ bản đúng tiến độ; phương pháp giảng dạy, kiểm tra và đánh giá tiếp tục đổi mới theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn và giáo dục tại các vùng còn khó khăn đều ghi nhận những kết quả đáng khích lệ.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý tiếp tục giữ vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục. Dù vẫn đối mặt với những hạn chế về biên chế, điều kiện làm việc và áp lực nhiệm vụ, đội ngũ giáo viên đã nỗ lực đổi mới phương pháp, tận tâm với nghề và đóng góp quan trọng vào kết quả chung của toàn ngành.
Chuyển đổi số và đổi mới quản trị cũng được triển khai mạnh mẽ hơn. Cơ sở dữ liệu giáo dục từng bước được hoàn thiện; công nghệ số ngày càng được ứng dụng sâu hơn trong quản lý, điều hành và tổ chức dạy học. Đây là tiền đề để hình thành mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, đồng thời hỗ trợ triển khai các phương pháp dạy học phù hợp với năng lực và nhu cầu riêng của từng học sinh.
Bên cạnh những kết quả tích cực, Bộ trưởng yêu cầu toàn ngành nhìn nhận thẳng thắn các hạn chế chưa được giải quyết triệt để. Chất lượng giáo dục vẫn còn chênh lệch giữa các địa phương, vùng miền; cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục có chất lượng của học sinh tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế.
Công tác quy hoạch mạng lưới trường học, phát triển đội ngũ và đầu tư cơ sở vật chất tại một số địa phương chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Tình trạng thiếu giáo viên cục bộ vẫn diễn ra, nhất là ở một số môn học và địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh. Trong khi đó, tại một số nơi, đội ngũ và cơ sở vật chất hiện có chưa được sắp xếp, khai thác hiệu quả.
Quản trị giáo dục và chuyển đổi số tuy có tiến bộ nhưng chưa đồng đều. Việc sử dụng dữ liệu trong quản lý tại một số địa phương còn mang tính hình thức; cải cách thủ tục hành chính chưa đạt yêu cầu; hồ sơ và sổ sách vẫn tạo áp lực lớn đối với giáo viên. Chuyển đổi số vì vậy cần tạo ra sự thay đổi thực sự trong phương thức điều hành, thay vì chỉ chuyển các thủ tục truyền thống sang môi trường điện tử.
Chất lượng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, hướng nghiệp, STEM, ngoại ngữ và năng lực số ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới. Những hiện tượng như bạo lực học đường, vi phạm đạo đức nhà giáo, gian lận trong thi cử, lạm thu, dạy thêm không đúng quy định và bệnh thành tích vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của xã hội đối với ngành Giáo dục.
Theo Bộ trưởng, bên cạnh các nguyên nhân khách quan, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở tư duy, nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện. Ở một số nơi, công tác lãnh đạo chưa quyết liệt, sự phối hợp giữa các cấp và các ngành chưa chặt chẽ, trong khi trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân chưa được xác định rõ.
Do đó, mỗi hạn chế phải gắn với giải pháp khắc phục cụ thể; mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ người chịu trách nhiệm; mỗi cam kết phải được kiểm chứng bằng kết quả. Chỉ khi chuyển từ điều hành dựa vào kinh nghiệm sang quản trị bằng dữ liệu và hiệu quả đầu ra, ngành Giáo dục mới có thể tạo ra những chuyển biến thực chất, ổn định và bền vững.
Năm trọng tâm hướng tới nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực
Trong năm học 2026–2027, ngành Giáo dục được yêu cầu xác định rõ mục tiêu, sản phẩm và kết quả cần đạt được, đồng thời cụ thể hóa các nhiệm vụ thành chương trình hành động có thể đo lường. Mục tiêu cao nhất là xây dựng một nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực, trong đó mọi người học đều có cơ hội tiếp cận điều kiện giáo dục phù hợp và phát triển toàn diện.
Trọng tâm đầu tiên là khôi phục và bảo đảm chất lượng giáo dục thực chất, xây dựng hệ thống học thật, thi thật, nhân tài thật và giá trị thật. Ngành Giáo dục phải chấm dứt tình trạng nâng điểm, làm đẹp học bạ và chạy theo thành tích. Tinh thần liêm chính học thuật cần được hình thành cho học sinh ngay từ những cấp học đầu tiên, giúp các em nhận thức đúng năng lực của bản thân và nỗ lực tiến bộ thay vì chỉ chạy theo điểm số hoặc sự so sánh.
Việc kiểm tra và thi cử phải trở về đúng chức năng là đánh giá kết quả dạy và học, xác định mức độ đạt chuẩn của học sinh và cung cấp dữ liệu phục vụ điều chỉnh chính sách giáo dục. Kỳ thi không nên trở thành công cụ tạo áp lực hoặc đơn thuần phân loại, loại bỏ người học.
Trọng tâm tiếp theo là giải phóng sức lao động của giáo viên. Khi xác định học sinh và sinh viên là trung tâm, ngành Giáo dục đồng thời phải đề cao vai trò của người thầy, bởi chất lượng giáo dục phụ thuộc trực tiếp vào năng lực chuyên môn, thời gian và tâm huyết của đội ngũ nhà giáo.
Hiệu quả quản lý giáo dục không thể chỉ được đo bằng số lượng học sinh giỏi hoặc thành tích thi đua. Một tiêu chí quan trọng là giáo viên có được giảm bớt thủ tục hành chính, hồ sơ trùng lặp và những nhiệm vụ không liên quan trực tiếp đến chuyên môn hay không. Bộ trưởng yêu cầu tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các loại hồ sơ, sổ sách giấy trùng lặp, tăng cường sử dụng dữ liệu điện tử và cắt giảm tối thiểu 50% những hội thi, phong trào, danh hiệu mang tính hình thức. Qua đó, giáo viên có thêm thời gian nghiên cứu bài giảng, hỗ trợ học sinh và nâng cao chất lượng chuyên môn.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là tối ưu hóa nguồn lực và kiên quyết chống lãng phí. Thực tế hiện nay tồn tại đồng thời tình trạng thiếu giáo viên và thừa biên chế cục bộ. Nguyên nhân không chỉ nằm ở tổng số lượng nhân sự mà còn liên quan đến việc điều chuyển, phân bổ và sắp xếp đội ngũ chưa hợp lý giữa các môn học, trường học và địa phương.
Ngành Giáo dục cần triển khai việc sắp xếp cơ sở giáo dục theo tinh thần “giảm để tăng”, tức giảm đầu mối trung gian hoặc những đơn vị hoạt động chưa hiệu quả để tăng số lượng nhà giáo trực tiếp tham gia giảng dạy. Cùng với đó, các địa phương phải rà soát mức độ khai thác phòng học, phòng thí nghiệm, thiết bị và các công trình đã được đầu tư.
Đối với hệ thống trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, việc đầu tư phải gắn với kế hoạch vận hành và sử dụng lâu dài. Những công trình đã hoàn thành nhưng để trống, không phát huy hiệu quả sẽ gây lãng phí nguồn lực của Trung ương và địa phương; người đứng đầu đơn vị liên quan phải chịu trách nhiệm.
Ngành Giáo dục cũng sẽ tập trung xây dựng và cải thiện các chỉ số phát triển. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ tiếp cận giáo dục có chất lượng, tính công bằng giữa các địa phương, chất lượng giáo dục thực tế và năng lực chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai.
Để các chỉ số phản ánh đúng thực tiễn, dữ liệu về giáo viên, học sinh, phòng học, cơ sở vật chất và thiết bị tối thiểu phải được cập nhật đầy đủ, thường xuyên và chính xác. Dữ liệu sẽ trở thành căn cứ để các Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho lãnh đạo địa phương, đồng thời đưa ra quyết định phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.
Trọng tâm cuối cùng là củng cố niềm tin của nhân dân đối với giáo dục. Niềm tin đó được thể hiện qua sự an tâm của phụ huynh khi gửi con đến trường, sự an toàn và lành mạnh của môi trường học tập, cũng như tính minh bạch, công bằng trong kiểm tra, đánh giá và thi cử.
Toàn ngành phải từng bước loại bỏ gian lận thi cử, lạm thu và những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp; công khai các khoản thu, minh bạch dữ liệu hoạt động và xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực. Xây dựng nền giáo dục trung thực không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn liên quan đến lòng tự trọng và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo.
Đổi mới tư duy được xác định là điều kiện tiên quyết để tạo ra thay đổi. Đội ngũ quản lý từ Bộ đến các sở, phòng và cơ sở giáo dục cần nhìn nhận giáo dục không chỉ từ góc độ nội bộ ngành mà còn từ nhu cầu của người học, phụ huynh, xã hội và yêu cầu phát triển của đất nước. Giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, vì vậy sự tham gia của gia đình, địa phương và các lực lượng xã hội phải được nhìn nhận đầy đủ.
Tư duy “giảm để tăng” cần được vận dụng linh hoạt: giảm hình thức để tăng chất lượng; giảm thủ tục để tăng thời gian dành cho chuyên môn; giảm những nội dung không còn thiết thực để tăng cường kiến thức, kỹ năng phù hợp với bối cảnh mới. Mỗi địa phương cần nhận diện rõ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và quản trị để xây dựng giải pháp phù hợp, tránh triển khai chung chung hoặc chạy theo phong trào.
Đối với công tác thi cử, kết quả kỳ thi phải bảo đảm độ tin cậy và khả năng phân hóa, vừa làm căn cứ cho các cơ sở giáo dục đại học xét tuyển, vừa phản ánh trung thực chất lượng dạy học. Những sai phạm xảy ra tại một số địa phương cần được điều tra và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ sự công bằng, tính trung thực và uy tín của kỳ thi.
Tuy nhiên, yêu cầu về sự trung thực không chỉ giới hạn trong một kỳ thi mà phải được thực hiện trong từng hoạt động giảng dạy, kiểm tra, đánh giá, báo cáo và quản lý hằng ngày. Đây là nhiệm vụ cần được triển khai kiên trì trong nhiều năm, bắt đầu từ những thay đổi nhỏ nhưng cụ thể tại mỗi lớp học, nhà trường và cơ quan quản lý.
Với phương châm “Đổi mới tư duy, chuyển biến mạnh mẽ, kết quả thực chất”, ngành Giáo dục đặt mục tiêu tạo ra thay đổi ngay từ năm học 2026–2027, hướng tới xây dựng mỗi nhà trường trở thành môi trường học tập an toàn, hạnh phúc; mỗi giáo viên trở thành tấm gương về đổi mới, sáng tạo và liêm chính; mỗi học sinh có điều kiện phát triển toàn diện về tri thức, nhân cách và khát vọng cống hiến.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn yêu cầu đội ngũ lãnh đạo, quản lý giáo dục hành động theo tinh thần làm ngay, làm nhanh, làm đúng, làm đến cùng và làm có hiệu quả. Mọi chính sách, chương trình và giải pháp cuối cùng phải được đánh giá bằng sự tiến bộ của học sinh, điều kiện làm việc của giáo viên và mức độ tin tưởng của xã hội đối với nền giáo dục.
Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:
– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.
– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.
– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.
– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.
– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.
– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.
cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.

