Năm học 2026 – 2027 mở ra trong bối cảnh ngành giáo dục đồng thời phải giải quyết nhiều yêu cầu lớn: ổn định tổ chức sau quá trình sắp xếp mạng lưới trường lớp, khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, triển khai dạy học hai buổi mỗi ngày, đổi mới kiểm tra – đánh giá và thúc đẩy chuyển đổi số. Những nhiệm vụ này không chỉ đòi hỏi thêm nguồn lực mà còn đặt ra yêu cầu thay đổi mạnh mẽ về tư duy quản trị, phân bổ nhân lực và cách tổ chức hoạt động giáo dục ở từng địa phương, từng nhà trường.

Một tiết học tại trường THCS
Một tiết học tại trường THCS

Tái cấu trúc mạng lưới trường học đặt ra bài toán quản trị và phân bổ nguồn lực

Một trong những thách thức lớn của năm học mới là ổn định hoạt động của hệ thống giáo dục trong quá trình sắp xếp, sáp nhập và tổ chức lại mạng lưới trường lớp. Chủ trương tinh gọn bộ máy nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực là cần thiết, song quá trình triển khai trên thực tế đang cho thấy nhiều vấn đề cần được xử lý thận trọng.

Tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM và những khu vực tập trung đông khu công nghiệp, tốc độ gia tăng dân số cơ học tiếp tục tạo sức ép lên hệ thống trường học. Nhiều khu vực vẫn đối mặt với tình trạng thiếu phòng học, sĩ số lớp cao và quỹ đất dành cho giáo dục hạn chế. Khi số lượng học sinh tăng nhanh hơn khả năng mở rộng cơ sở vật chất, việc bảo đảm điều kiện học tập đạt chuẩn trở thành bài toán khó đối với chính quyền địa phương.

Ở chiều ngược lại, nhiều địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa lại gặp khó khăn trong việc duy trì điểm trường, đầu tư thiết bị dạy học và bảo đảm điều kiện tối thiểu cho học sinh. Việc sáp nhập các điểm trường có thể giúp tập trung nguồn lực và giảm chi phí quản lý, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng khoảng cách di chuyển của học sinh, đặc biệt đối với các em ở khu vực có địa hình phức tạp.

Nếu quá trình sắp xếp không được tính toán dựa trên điều kiện dân cư, giao thông và khả năng tiếp cận giáo dục, nguy cơ học sinh phải đi học xa hơn hoặc gặp khó khăn trong việc duy trì việc học có thể gia tăng. Vì vậy, hiệu quả của quá trình tinh gọn không thể chỉ được đo bằng số lượng đầu mối giảm đi mà cần được đánh giá thông qua khả năng bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của người học.

Quá trình sáp nhập còn tạo áp lực đáng kể đối với công tác quản lý nhà trường. Khi hai hoặc nhiều cơ sở được tổ chức lại thành một đơn vị có quy mô lớn hơn, hiệu trưởng phải điều hành hệ thống với số lượng học sinh, giáo viên và nhân viên tăng lên, trong khi phạm vi hoạt động có thể phân tán ở nhiều địa điểm.

Sự khác biệt về văn hóa tổ chức, phương pháp làm việc và quy trình chuyên môn giữa các trường trước khi sáp nhập cũng có thể tạo ra những khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp. Nếu không có cơ chế điều phối rõ ràng, việc tích hợp các đơn vị có thể dẫn đến tình trạng đứt gãy thông tin, chồng chéo trách nhiệm hoặc phát sinh tâm lý không ổn định trong đội ngũ.

Một vấn đề khác là xử lý nhân sự và tài sản sau sắp xếp. Khi cơ cấu tổ chức thay đổi, số lượng cán bộ quản lý hoặc nhân viên ở một số vị trí có thể vượt quá nhu cầu thực tế. Việc bố trí lại nhân sự vì thế cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp, vừa bảo đảm yêu cầu tinh gọn, vừa hạn chế tác động tiêu cực đến tâm lý và quyền lợi của người lao động.

Đối với người đứng đầu nhà trường, áp lực không chỉ nằm ở việc xử lý các vấn đề hành chính mà còn ở nhiệm vụ duy trì chất lượng giáo dục. Khi những cơ sở có chất lượng đầu vào, thành tích hoặc điều kiện giảng dạy khác nhau được hợp nhất, việc xây dựng một chuẩn chất lượng chung trở thành yêu cầu phức tạp.

Nếu công tác quản trị thiếu linh hoạt, quá trình sáp nhập có thể dẫn đến tình trạng bình quân hóa chất lượng, làm suy giảm những thế mạnh vốn có của từng đơn vị. Trong khi đó, khối lượng công việc liên quan đến tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất và tổ chức bộ máy có thể khiến ban giám hiệu dành ít thời gian hơn cho các nhiệm vụ chuyên môn như dự giờ, phát triển chương trình hoặc hỗ trợ giáo viên.

Sau nhiều năm triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, năm học 2026-2027 cũng là giai đoạn mà hiệu quả của những thay đổi cần được phản ánh rõ hơn trong thực tế lớp học. Điều này khiến yêu cầu đối với đội ngũ quản lý ngày càng cao: không chỉ duy trì hoạt động ổn định mà còn phải bảo đảm chất lượng giáo dục trong bối cảnh tổ chức hệ thống đang có nhiều biến động.

Thiếu giáo viên, dạy hai buổi và chuyển đổi số tiếp tục là những điểm nghẽn lớn

Bên cạnh những vấn đề về tổ chức mạng lưới, ngành giáo dục tiếp tục phải đối mặt với tình trạng thiếu và mất cân đối giáo viên tại nhiều địa phương. Đây là vấn đề kéo dài qua nhiều năm nhưng chưa được giải quyết triệt để, đặc biệt ở các môn học mới hoặc những lĩnh vực có nhu cầu nhân lực tăng nhanh.

Các môn như Tin học, Nghệ thuật, Kinh tế và Pháp luật vẫn gặp khó khăn về nguồn giáo viên ở một số địa bàn. Nhu cầu giáo viên tiếng Anh cũng có xu hướng tăng trong bối cảnh chủ trương nâng cao năng lực ngoại ngữ và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được thúc đẩy mạnh hơn.

Bài toán nhân lực vì vậy không chỉ nằm ở tổng số giáo viên mà còn liên quan đến cơ cấu chuyên môn và khả năng phân bổ giữa các địa phương. Có nơi thiếu giáo viên trong thời gian dài nhưng không tuyển đủ người, trong khi một số khu vực khác lại khó bố trí công việc phù hợp cho đội ngũ hiện có.

Việc triển khai đồng thời nhiều yêu cầu mới trong chương trình giáo dục cũng khiến áp lực đối với giáo viên gia tăng. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy, giáo viên ngày càng phải tham gia nhiều hoạt động liên quan đến phát triển năng lực học sinh, tổ chức trải nghiệm, giáo dục STEM, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá.

Nếu các nhiệm vụ mới liên tục được bổ sung nhưng chưa có sự điều chỉnh tương ứng về nhân lực, thời gian làm việc và cơ chế hỗ trợ, nguy cơ quá tải đối với giáo viên sẽ ngày càng rõ rệt. Khi đó, đổi mới có thể được triển khai đầy đủ về mặt quy định nhưng khó tạo ra hiệu quả thực chất trong lớp học.

Dạy học hai buổi mỗi ngày là một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm trong năm học mới. Mục tiêu của mô hình không chỉ là kéo dài thời gian học sinh ở trường mà phải tạo thêm không gian cho các hoạt động giáo dục có giá trị, từ củng cố kiến thức, phát triển năng khiếu đến tăng cường thể chất và kỹ năng.

Điều này đồng nghĩa với việc các trường phải có đủ phòng học, giáo viên, trang thiết bị và điều kiện phục vụ bán trú. Với những cơ sở đã quá tải về sĩ số hoặc thiếu phòng chức năng, việc tổ chức hai buổi một ngày có thể gặp nhiều khó khăn nếu không được chuẩn bị đầy đủ.

Theo TS Lê Đức Thuận, nguyên Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình, Hà Nội, thách thức lớn không chỉ nằm ở số lượng nhiệm vụ mới mà còn ở yêu cầu thay đổi cách thức quản lý. Thay vì tiếp tục vận hành theo mô hình thiên về kiểm tra thủ tục, hồ sơ và xử lý sự vụ, các cơ sở giáo dục cần chuyển mạnh sang quản trị dựa trên mục tiêu, dữ liệu và trách nhiệm giải trình.

Theo cách tiếp cận này, người quản lý cần có khả năng dự báo nhu cầu, nhận diện rủi ro và sử dụng dữ liệu để đưa ra quyết định. Phân quyền cũng phải đi kèm trách nhiệm rõ ràng để từng cấp quản lý chủ động xử lý vấn đề mà không làm gia tăng thêm các tầng thủ tục hành chính.

Chuyển đổi số được kỳ vọng trở thành công cụ hỗ trợ quá trình này, song hiệu quả chỉ đạt được khi công nghệ thực sự giúp giảm tải công việc. Nếu mỗi chủ trương đổi mới lại kéo theo một hệ thống phần mềm, biểu mẫu hoặc nền tảng nhập liệu riêng biệt, giáo viên và cán bộ quản lý có thể phải dành nhiều thời gian hơn cho công việc hành chính.

Theo TS Lê Đức Thuận, thước đo của chuyển đổi số không nằm ở số lượng nền tảng được triển khai mà ở khả năng giúp học sinh học tập thuận lợi hơn, giảm khối lượng công việc hành chính cho giáo viên, nâng cao tính minh bạch trong quản trị và thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm người học.

Để giải quyết những vấn đề này, vai trò điều phối ở cả cấp trung ương và địa phương được xem là yếu tố then chốt. Cơ quan quản lý trung ương cần tiếp tục theo dõi quá trình sắp xếp mạng lưới, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến biên chế, tài chính, đầu tư và phân cấp quản lý.

Ở cấp địa phương, việc lập bản đồ nhu cầu giáo dục dựa trên dữ liệu dân số, khoảng cách đi học, số lượng giáo viên, phòng học, điều kiện bán trú và kết quả học tập có thể trở thành cơ sở quan trọng để phân bổ nguồn lực. Thay vì thực hiện sáp nhập hoặc đầu tư theo cách đồng loạt, mỗi địa phương cần có phương án phù hợp với đặc điểm dân cư và nhu cầu thực tế.

Đối với từng nhà trường, đặc biệt là những đơn vị vừa trải qua quá trình sắp xếp, hiệu trưởng cần chuyển dần từ vai trò xử lý công việc hành chính sang vai trò kiến tạo hệ thống quản trị. Điều này bao gồm xây dựng mục tiêu rõ ràng, tổ chức quy trình vận hành, phân quyền hợp lý, phát triển đội ngũ và chịu trách nhiệm về kết quả giáo dục.

Năm học 2026-2027 vì thế không chỉ là một năm học có nhiều nhiệm vụ mới mà còn là phép thử đối với năng lực thích ứng của toàn hệ thống. Khả năng giải quyết đồng thời các bài toán về mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chuyển đổi số và chất lượng dạy học sẽ quyết định mức độ thành công của quá trình đổi mới trong giai đoạn tiếp theo.

Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:

– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.

– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.

– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.

– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.

– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.

– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.

cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.