Việc ban hành quy định về tổ chức giáo dục STEM tạo cơ sở để các trường phổ thông triển khai hoạt động tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học một cách thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tế. Yêu cầu đặt ra là chuyển những định hướng chính sách thành trải nghiệm học tập có chiều sâu, trong đó năng lực tìm tòi, vận dụng kiến thức và giải quyết vấn đề của học sinh trở thành căn cứ đánh giá hiệu quả.

Hoạt động STEM tạo cơ hội để học sinh vận dụng kiến thức, thử nghiệm và cải tiến giải pháp từ những vật liệu gần gũi.
Hoạt động STEM tạo cơ hội để học sinh vận dụng kiến thức, thử nghiệm và cải tiến giải pháp từ những vật liệu gần gũi.

Sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục phổ thông. Bên cạnh việc trang bị kiến thức nền tảng, nhà trường cần giúp học sinh biết đặt câu hỏi, tìm kiếm bằng chứng, thử nghiệm giải pháp và thích ứng với những tình huống chưa có sẵn cách giải quyết. Giáo dục STEM được kỳ vọng góp phần đáp ứng yêu cầu này thông qua việc kết nối tri thức giữa các lĩnh vực và tổ chức cho người học vận dụng vào thực tiễn.

Trong bối cảnh đó, Thông tư số 86/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về tổ chức hoạt động giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học trong giáo dục phổ thông, tạo cơ sở thống nhất cho quá trình triển khai tại nhà trường. Những nội dung liên quan đến kế hoạch giáo dục, điều kiện thiết bị, ứng dụng công nghệ và phối hợp với các tổ chức ngoài trường đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới cách thiết kế, tổ chức và đánh giá hoạt động STEM.

Hoàn thiện cơ chế tổ chức, mở rộng điều kiện tiếp cận giáo dục STEM

Một khó khăn trong triển khai giáo dục STEM là sự khác biệt về cách hiểu và điều kiện thực hiện giữa các cơ sở giáo dục. Khi STEM chủ yếu được nhìn nhận qua các cuộc thi, ngày hội hoặc sản phẩm trưng bày, nhà trường dễ dành nhiều nguồn lực cho những hoạt động riêng lẻ mà chưa gắn chặt với mục tiêu của chương trình. Việc tổ chức vì thế có thể tạo thêm áp lực cho giáo viên, học sinh và chưa phản ánh đầy đủ chất lượng học tập.

Theo thầy Trang Minh Thiên, Tổ trưởng chuyên môn Tổ Công nghệ – Sinh học – Tin học, Trường THPT Nguyễn Việt Dũng, thành phố Cần Thơ, Thông tư 86 có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ những vướng mắc này. Quy định cho phép tích hợp linh hoạt giáo dục STEM vào kế hoạch giáo dục nhà trường, không hình thành môn học mới, không tăng tổng số tiết học và không làm phát sinh thêm hồ sơ, sổ sách hay áp lực học tập. Đây là cơ sở để giáo viên tập trung vào thiết kế nhiệm vụ học tập thay vì gia tăng các thủ tục hoặc hoạt động mang tính hình thức.

Việc xác định ngày hội và cuộc thi STEM không phải điều kiện bắt buộc cũng góp phần điều chỉnh cách nhìn về hiệu quả triển khai. Thành tích tại một cuộc thi có thể ghi nhận kết quả của một nhóm học sinh, nhưng không thể thay thế việc xem xét cơ hội học tập của toàn bộ người học. Khi hoạt động thi đua không trở thành sức ép, nhà trường có điều kiện ưu tiên những bài học phù hợp với chương trình, được tổ chức thường xuyên và có khả năng duy trì lâu dài.

Về cơ sở vật chất, danh mục khung thiết bị giáo dục STEM được phân thành ba mức độ tạo sự linh hoạt cho các trường lựa chọn phương án triển khai. Theo thầy Trang Minh Thiên, ở mức cơ bản, nhà trường có thể tận dụng thiết bị dạy học tối thiểu, vật liệu tái chế và những nguồn vật liệu chi phí thấp. Cách tiếp cận này giúp hạn chế quan niệm cho rằng giáo dục STEM chỉ có thể thực hiện khi được trang bị phòng thí nghiệm hiện đại hoặc thiết bị đắt tiền.

Khả năng sử dụng nguồn lực sẵn có đặc biệt có ý nghĩa đối với những địa bàn còn khó khăn. Một nhiệm vụ học tập phù hợp không nhất thiết đòi hỏi công nghệ phức tạp, nhưng cần tạo cơ hội để học sinh quan sát, đo đạc, thiết kế, kiểm nghiệm và giải thích kết quả. Vì vậy, lựa chọn thiết bị phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đặc điểm của nhiệm vụ, đồng thời bảo đảm an toàn và khả năng tham gia của học sinh.

Tại Trường THCS Kim Liên, Hà Nội, việc tổ chức giáo dục STEM được chuẩn bị từ khâu rà soát chương trình và xây dựng kế hoạch chuyên môn đầu năm học. Theo cô Trương Thúy Lê, Tổ trưởng chuyên môn Tổ Khoa học tự nhiên 2, các tổ chuyên môn lựa chọn những bài học phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện nhà trường. Trọng tâm là chất lượng của từng hoạt động, thay vì số lượng hoạt động được tổ chức.

Ở cấp trung học cơ sở, môn Khoa học tự nhiên tạo điều kiện kết nối kiến thức vật lý, hóa học và sinh học để giải thích hiện tượng, tiến hành thí nghiệm và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, sự kết nối này cần được thể hiện trong nhiệm vụ cụ thể. Học sinh phải có cơ hội đề xuất ý tưởng, lựa chọn phương án, thử nghiệm và cải tiến, qua đó nhận ra kiến thức đã học có thể được sử dụng như thế nào.

Bên cạnh điều kiện thiết bị, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo mở rộng khả năng tiếp cận học liệu, mô phỏng và hỗ trợ quá trình khám phá. Theo nhận định của thầy Trang Minh Thiên, những định hướng trong Thông tư tạo cơ sở rõ ràng hơn cho việc khai thác các công cụ này trong giáo dục STEM. Việc sử dụng cần đi cùng trách nhiệm, tính minh bạch, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân của học sinh.

Hợp tác với cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp, nhà khoa học và nghệ nhân cũng có thể bổ sung nguồn lực và kinh nghiệm thực tiễn cho nhà trường. Thông qua sự phối hợp phù hợp, học sinh được tiếp cận các vấn đề trong sản xuất và đời sống, hiểu thêm về cách tri thức được vận dụng ngoài lớp học. Hiệu quả hợp tác phụ thuộc vào việc xác định rõ mục tiêu giáo dục, trách nhiệm của các bên và yêu cầu an toàn trong tổ chức.

Đổi mới thiết kế và đánh giá, lấy năng lực học sinh làm thước đo

Cơ chế tổ chức thuận lợi là điều kiện cần, trong khi chất lượng trải nghiệm học tập quyết định giá trị của giáo dục STEM. Theo TS. Tôn Quang Cường, Chủ nhiệm Khoa Công nghệ giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc tích hợp môn học, chế tạo sản phẩm hoặc tham gia hoạt động trải nghiệm đều có ý nghĩa. Tuy nhiên, số lượng thiết bị được sử dụng hay sản phẩm được hoàn thành chưa đủ để khẳng định học sinh đã phát triển năng lực tương ứng.

Điểm cốt lõi nằm ở khả năng huy động kiến thức để nhận diện và giải quyết vấn đề. Trong một nhiệm vụ STEM, học sinh cần hiểu vấn đề đang đặt ra, xác định những thông tin cần thiết, hình thành giả thuyết hoặc phương án thiết kế, tiến hành thử nghiệm và phân tích kết quả. Quá trình điều chỉnh giải pháp, lý giải lựa chọn và bảo vệ kết luận bằng bằng chứng là những thành phần quan trọng của hoạt động học tập.

Cách tiếp cận này đòi hỏi chuyển trọng tâm từ truyền đạt nội dung sang tổ chức cho học sinh sử dụng nội dung đã học. Chẳng hạn, một nhiệm vụ thiết kế hệ thống tưới tiết kiệm nước có thể yêu cầu kiến thức khoa học để tìm hiểu nhu cầu của cây, toán học để tính lượng nước và thời gian tưới, tư duy kỹ thuật để lựa chọn cấu trúc vận hành. Giá trị giáo dục được thể hiện qua cách học sinh kết nối các kiến thức đó và kiểm chứng hiệu quả của phương án.

Những vấn đề gần gũi với nhà trường và địa phương là nguồn chất liệu phù hợp để xây dựng nhiệm vụ STEM. Tiết kiệm điện, giảm rác thải, sử dụng nước hợp lý, sản xuất nông nghiệp hoặc thiết kế hỗ trợ người khuyết tật đều có thể trở thành nội dung học tập. Mức độ phức tạp cần được điều chỉnh theo lứa tuổi, kiến thức nền và điều kiện thực hiện, bảo đảm học sinh có khả năng tham gia thực chất vào quá trình tìm hiểu.

Theo TS. Tôn Quang Cường, sản phẩm có giá trị không nhất thiết phải phức tạp về công nghệ. Một thiết kế đơn giản vẫn có thể tạo ra trải nghiệm học tập sâu nếu học sinh phải so sánh nhiều phương án, thu thập dữ liệu, kiểm tra giả thuyết và sửa đổi sau thử nghiệm. Ngược lại, việc làm theo một quy trình có sẵn để hoàn thành sản phẩm đẹp mắt có thể hạn chế cơ hội suy nghĩ độc lập nếu học sinh không hiểu nguyên lý hoặc không được tham gia quyết định.

Từ đó, đánh giá hoạt động STEM cần chú ý cả quá trình và kết quả. Ngoài chất lượng sản phẩm cuối cùng, giáo viên cần xem xét cách học sinh xác định vấn đề, vận dụng kiến thức, phối hợp trong nhóm, giải thích dữ liệu và phản hồi trước những hạn chế của giải pháp. Một lần thử nghiệm chưa thành công vẫn có thể mang lại giá trị nếu học sinh nhận diện được nguyên nhân và đề xuất hướng cải tiến có căn cứ.

Yêu cầu này đồng thời làm rõ vai trò của giáo viên trong thiết kế và hỗ trợ học tập. Giáo viên cần lựa chọn vấn đề vừa sức, xác định mục tiêu chuyên môn, dự kiến những khó khăn và xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp. Trong quá trình tổ chức, sự hướng dẫn cần đủ để học sinh tiếp tục khám phá nhưng vẫn dành không gian cho các em lựa chọn, thử nghiệm và chịu trách nhiệm về phương án của mình.

Sự phối hợp giữa các tổ chuyên môn cũng có ý nghĩa quan trọng. Tích hợp không đơn thuần là đưa kiến thức của nhiều môn vào cùng một hoạt động, mà cần xác định mỗi thành phần kiến thức đóng góp như thế nào vào việc giải quyết vấn đề. Kế hoạch chung giúp giáo viên thống nhất mục tiêu, phân bổ thời gian và tránh tạo thêm nhiệm vụ trùng lặp cho học sinh.

Trong bối cảnh công nghệ và thị trường lao động biến đổi nhanh, giáo dục phổ thông khó có thể dự báo đầy đủ những nghề nghiệp mà học sinh sẽ đảm nhiệm. Tuy nhiên, nhà trường có thể chuẩn bị những năng lực nền tảng như học hỏi, tư duy dựa trên bằng chứng, hợp tác và thích ứng. Giáo dục STEM đóng góp vào quá trình đó khi tạo được môi trường để học sinh chủ động vận dụng tri thức, kiểm nghiệm ý tưởng và học từ kết quả thực tế.

Việc triển khai Thông tư 86 vì vậy cần gắn với bồi dưỡng giáo viên, bảo đảm nguồn lực phù hợp và đổi mới cách đánh giá. Khi chính sách được chuyển hóa thành những nhiệm vụ học tập có mục tiêu rõ ràng, giáo dục STEM sẽ có điều kiện phát triển thường xuyên trong lớp học, mở rộng cơ hội tiếp cận khoa học và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của học sinh.

Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:

– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.

– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.

– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.

– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.

– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.

– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.

cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.