Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và thị trường lao động đang biến đổi nhanh chóng, giáo dục đại học Việt Nam đứng trước yêu cầu phải điều chỉnh mạnh mẽ mô hình phát triển. Trọng tâm không còn chỉ là mở rộng quy mô đào tạo mà phải chuyển sang nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, gia tăng năng lực nghiên cứu và tạo ra những đóng góp thực chất cho nền kinh tế, xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường đại học.
Sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường đại học.

Ngày 1/10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026 được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức với sự tham dự của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, địa phương và hệ thống cơ sở giáo dục đại học trên cả nước. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các cơ sở đào tạo, tạo diễn đàn đánh giá kết quả năm học 2025-2026 và xác định những định hướng trọng tâm cho giai đoạn tiếp theo.

Những vấn đề được đặt ra tại hội nghị cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Sau thời kỳ mở rộng quy mô và hoàn thiện tương đối đầy đủ khung chính sách, yêu cầu hiện nay là chuyển các chủ trương, cơ chế và nguồn lực thành kết quả có thể đo lường được về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hiệu quả quản trị.

Đại học phải đi trước trong chuẩn bị nguồn nhân lực và năng lực đổi mới quốc gia

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ghi nhận những kết quả mà hệ thống giáo dục đại học đạt được trong năm học vừa qua. Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng, khi đặt trong yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, giáo dục đại học vẫn còn những điểm nghẽn cần được giải quyết một cách căn cơ.

Một trong những vấn đề đáng chú ý là sự chênh lệch về chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu giữa các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều trường chưa xác định rõ sứ mệnh và lợi thế riêng, trong khi công tác dự báo nhu cầu nhân lực và điều chỉnh cơ cấu đào tạo chưa theo kịp những thay đổi của nền kinh tế và thị trường lao động.

Hệ quả của sự thiếu liên kết giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực có thể biểu hiện ở tình trạng sinh viên tốt nghiệp khó tìm được việc làm phù hợp hoặc làm việc không đúng chuyên môn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến người học mà còn dẫn tới sự lãng phí nguồn lực xã hội dành cho giáo dục.

Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ trình độ cao và đào tạo sau đại học vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển mới. Tự chủ đại học dù đã được thúc đẩy trong nhiều năm nhưng ở một số nơi chưa đi vào chiều sâu, trong khi tiềm lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và nguồn dữ liệu của các trường chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực công nghệ và giá trị kinh tế – xã hội.

Từ thực tế này, vấn đề được đặt ra không chỉ là khắc phục những hạn chế trước mắt mà còn xác định vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trong khoảng 10 đến 20 năm tới. Mục tiêu không nên dừng lại ở việc có thêm cơ sở giáo dục xuất hiện trong các bảng xếp hạng quốc tế, mà quan trọng hơn là xây dựng được những đại học có năng lực đào tạo, nghiên cứu, thu hút nhân tài và tạo ra tri thức có sức cạnh tranh ở khu vực và trên thế giới.

Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và những mô hình sản xuất mới đang làm thay đổi nhanh chóng cấu trúc việc làm. Nếu chương trình đào tạo không được cập nhật kịp thời, nguy cơ xuất hiện khoảng cách lớn giữa kiến thức sinh viên được học với năng lực mà thị trường lao động thực tế cần đến sẽ ngày càng rõ nét.

Do đó, giáo dục đại học phải đi trước một bước trong dự báo và chuẩn bị nguồn nhân lực. Năng lực dự báo dài hạn cần trở thành cơ sở quan trọng để các trường điều chỉnh quy mô tuyển sinh, ngành nghề và chương trình đào tạo, thay vì tiếp tục mở ngành hoặc tăng quy mô dựa chủ yếu trên nhu cầu tuyển sinh ngắn hạn. Cùng với đó, cách đánh giá thành công của một cơ sở giáo dục đại học cũng cần thay đổi. Quy mô người học, số lượng ngành đào tạo, số công bố khoa học hay thứ hạng quốc tế vẫn là những chỉ dấu cần thiết, nhưng không thể trở thành thước đo duy nhất.

Giá trị cuối cùng của giáo dục đại học phải được thể hiện ở chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nghề nghiệp của người tốt nghiệp, những tri thức mới được tạo ra, công nghệ được chuyển giao và khả năng giải quyết các vấn đề thực tế của doanh nghiệp, địa phương và xã hội.

Tinh thần này gắn với chủ đề năm học 2026-2027 là “Đổi mới tư duy – Chuyển biến mạnh mẽ – Kết quả thực chất”. Theo đó, tự chủ phải gắn với trách nhiệm, đầu tư phải tạo ra sản phẩm, nghiên cứu phải hướng đến ứng dụng và chính sách phải được chuyển hóa thành thay đổi cụ thể trong nhà trường, giảng đường và phòng thí nghiệm. Một yêu cầu khác được đặt ra là tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ theo hướng giảm những tầng nấc hành chính không cần thiết. Những vấn đề pháp luật đã trao quyền cho cơ sở giáo dục đại học cần được để các trường chủ động quyết định và chịu trách nhiệm, thay vì phát sinh thêm thủ tục xin ý kiến.

Ở chiều ngược lại, quyền tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả. Tự chủ không đồng nghĩa với việc giảm trách nhiệm quản trị mà đòi hỏi năng lực quản trị của các trường phải chuyên nghiệp hơn.

Quá trình sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục đại học cũng cần dựa trên chất lượng, sứ mệnh, nhu cầu phát triển của từng ngành, vùng và địa phương. Mục tiêu không đơn thuần là giảm số lượng đầu mối mà phải nâng cao chất lượng đào tạo, tập trung nguồn lực và khắc phục tình trạng đầu tư phân tán.

Theo định hướng được nêu tại hội nghị, việc tổ chức lại hệ thống không nên được tiến hành theo cách sáp nhập cơ học, nhưng cũng không thể kéo dài tình trạng tồn tại của những cơ sở không đáp ứng yêu cầu chất lượng. Qua đó, nguồn lực có thể được tập trung cho những trường, lĩnh vực đào tạo và nhóm nghiên cứu có tiềm năng tạo ảnh hưởng lớn hơn.

Mỗi cơ sở giáo dục vì vậy cần xác định rõ sứ mệnh, lĩnh vực thế mạnh và vị trí của mình trong hệ thống. Thay vì mở rộng ngành nghề theo chiều ngang, các trường cần ưu tiên nguồn lực cho những lĩnh vực mà mình có lợi thế và có khả năng tạo giá trị nổi bật.

Vai trò nghiên cứu của đại học cũng được đặt trong yêu cầu mới. Các trường không chỉ thực hiện nghiên cứu nhằm gia tăng số lượng công bố khoa học mà cần tiến tới tạo ra tri thức mới, công nghệ và sản phẩm có thể giải quyết những bài toán thực tế. Việc kết nối với doanh nghiệp, địa phương và các ngành kinh tế do đó trở thành một phần thiết yếu của hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Chuyển trọng tâm từ tăng quy mô sang nâng chất lượng và hiệu quả hệ thống

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho biết năm học 2025-2026 ghi nhận nhiều chuyển biến quan trọng về tư duy, thể chế và chính sách đối với giáo dục đại học. Hệ thống văn bản pháp luật được tiếp tục hoàn thiện, trong đó đáng chú ý là việc xây dựng cơ chế riêng về tự chủ đại học.

Nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học cũng đang được chuẩn bị ở quy mô lớn hơn thông qua đầu tư công, kế hoạch trung hạn và các chương trình mục tiêu. Đây được xem là điều kiện quan trọng để các cơ sở đào tạo cải thiện hạ tầng, phát triển đội ngũ, nâng cao chất lượng nghiên cứu và mở rộng năng lực đổi mới sáng tạo. Trong những năm qua, hệ thống đã đạt được kết quả đáng kể về mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học. Tuy nhiên, khi quy mô người học đã tăng lên, nhiệm vụ trọng tâm cần được chuyển sang bảo đảm chất lượng và hiệu quả thực tế của quá trình đào tạo.

Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, các trường cần chuyển từ mục tiêu chủ yếu mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng, đồng thời điều chỉnh cơ cấu trình độ, ngành nghề và lĩnh vực đào tạo theo những nhu cầu chiến lược của đất nước trong giai đoạn mới. Điều này đòi hỏi các trường phải chủ động đánh giá lại danh mục ngành đào tạo, khả năng đáp ứng nguồn nhân lực cũng như chất lượng đầu ra. Không phải ngành nào có nhu cầu tuyển sinh cao cũng nên liên tục mở rộng quy mô nếu thị trường lao động không thể hấp thụ số lượng sinh viên tốt nghiệp tương ứng.

Ngược lại, một số ngành khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược và kỹ thuật chuyên sâu dù chưa thu hút lượng lớn thí sinh vẫn cần được đầu tư dài hạn vì có ý nghĩa đối với năng lực khoa học, công nghệ và khả năng tự chủ của quốc gia. Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy trong năm học 2025-2026, toàn hệ thống tuyển mới 5.687 nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ, tăng 39,49% so với năm trước. Số người học mới ở trình độ thạc sĩ đạt 54.246, tăng 23,89%, trong khi tuyển mới đại học chính quy đạt 646.576 người, tăng 15,63%.

Quy mô toàn hệ thống hiện đạt gần 2,8 triệu người học. Trong đó, gần 2,6 triệu sinh viên đang theo học trình độ đại học và hơn 203.000 người học ở các trình độ sau đại học. Cơ cấu đào tạo cũng đang có dấu hiệu chuyển dịch theo hướng tăng nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược và những lĩnh vực then chốt. Quy mô sinh viên thuộc tám lĩnh vực STEM hiện chiếm khoảng 30,3% tổng số người học.

Sự chuyển dịch này có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, gia tăng số lượng sinh viên STEM mới chỉ là điều kiện ban đầu. Yêu cầu quan trọng hơn là chất lượng chương trình, năng lực đội ngũ và khả năng kết nối giữa đào tạo với nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường lao động. Các cơ sở giáo dục đại học đồng thời tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hệ thống nghiên cứu quốc gia. Năm 2025, khối đại học đóng góp 83,61% tổng số công bố Scopus của Việt Nam, cho thấy phần lớn hoạt động nghiên cứu học thuật của cả nước tập trung tại các trường.

Hoạt động chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực. Nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tăng 58,07% so với năm 2024. Dù vậy, yêu cầu trong giai đoạn tiếp theo không chỉ là tạo ra nhiều công trình nghiên cứu hơn mà phải nâng cao chất lượng và khả năng ứng dụng. Một công trình khoa học chỉ thực sự tạo giá trị khi đóng góp vào phát triển tri thức hoặc có khả năng giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống và xã hội.

Đây cũng là lý do mối liên kết giữa trường đại học, doanh nghiệp và các trung tâm nghiên cứu cần được thúc đẩy mạnh hơn. Doanh nghiệp có thể đưa ra những bài toán thực tiễn, trong khi trường đại học cung cấp năng lực nghiên cứu, đội ngũ chuyên gia và nguồn nhân lực trẻ. Khi hai khu vực kết nối hiệu quả, kết quả nghiên cứu có nhiều cơ hội được chuyển hóa thành công nghệ và sản phẩm.

Bước sang năm học 2026-2027, ngành Giáo dục xác định trọng tâm là đưa các cơ chế, chính sách đã ban hành vào thực tiễn và tạo ra những kết quả có khả năng đo lường được. Chất lượng đào tạo, năng lực đội ngũ, hiệu quả nghiên cứu và chất lượng quản trị sẽ trở thành các nội dung cần được đánh giá cụ thể hơn.

Song song với hoàn thiện thể chế, hệ thống giáo dục đại học sẽ tiếp tục hiện đại hóa quản trị, sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo và đầu tư có trọng điểm. Đổi mới cơ chế tài chính, phát triển đội ngũ, xây dựng văn hóa chất lượng và thúc đẩy chuyển đổi số cũng là những nhiệm vụ gắn chặt với quá trình tái cấu trúc.

Đặc biệt, sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu các trường phải vừa ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả đào tạo, vừa chuẩn bị cho sinh viên khả năng làm việc trong môi trường nghề nghiệp mới. Chương trình đào tạo vì thế cần được cập nhật linh hoạt, tăng cường năng lực số, tư duy phản biện và khả năng học tập suốt đời.

Nhìn rộng hơn, chuyển từ tăng trưởng về số lượng sang phát triển dựa trên chất lượng không chỉ là thay đổi cách vận hành của từng trường mà còn là sự điều chỉnh mô hình phát triển của toàn hệ thống giáo dục đại học. Khi quy mô không còn được xem là thước đo quan trọng nhất, các trường sẽ phải chứng minh giá trị thông qua năng lực người học sau tốt nghiệp, chất lượng nghiên cứu, hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ đóng góp vào những vấn đề phát triển của đất nước.

Đó cũng là nền tảng để giáo dục đại học Việt Nam từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, hình thành những cơ sở đào tạo và nghiên cứu có khả năng dẫn dắt, đồng thời thực hiện tốt hơn vai trò cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội trong dài hạn.

Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:

– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.

– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.

– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.

– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.

– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.

– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.

cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.