
Đề xuất bỏ điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đại học đặt ra yêu cầu xem xét lại cách thức ghi nhận năng lực của thí sinh. Bên cạnh mục tiêu bảo đảm công bằng, việc điều chỉnh chính sách cần có cơ sở đánh giá rõ ràng và lộ trình phù hợp, giúp học sinh chủ động chuẩn bị, đồng thời duy trì động lực học ngoại ngữ vì những giá trị lâu dài.

Công bằng tuyển sinh từ sự nhất quán trong đánh giá năng lực
Theo nội dung bài báo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo quy định tuyển sinh đại học, cao đẳng ngành Giáo dục mầm non, dự kiến áp dụng từ năm 2027. Một trong những nội dung được quan tâm là đề xuất bỏ các khoản điểm cộng theo quy định riêng của từng trường, bao gồm điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ và thành tích học sinh giỏi. Cùng với đó, phương án mỗi ngành chỉ sử dụng một phương thức xét tuyển từ năm 2028 cũng đặt ra yêu cầu chuẩn bị cho những thay đổi trong cách tổ chức tuyển sinh.
Tranh luận về điểm cộng IELTS xuất phát từ sự khác biệt trong cách các cơ sở đào tạo ghi nhận cùng một kết quả chứng chỉ. Theo số liệu tuyển sinh năm 2026 được GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, dẫn trong bài báo, hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó hơn 35.900 em sử dụng IELTS. Riêng mức IELTS 6.0, có hơn 8.300 thí sinh đạt được nhưng được các trường áp dụng tới 26 mức điểm cộng khác nhau.
Sự phân tán này cho thấy cùng một minh chứng năng lực ngoại ngữ có thể tạo ra những lợi thế tuyển sinh rất khác nhau. Khi điểm cộng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng điểm xét tuyển, thứ hạng của thí sinh có thể thay đổi mạnh, đặc biệt ở những ngành có mức độ cạnh tranh cao. GS Nguyễn Tiến Thảo nêu thực tế một số ngành có điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho phép cộng tới 1,5 điểm, làm phát sinh lo ngại về cơ hội trúng tuyển của nhóm thí sinh đạt điểm thi cao nhưng không có điều kiện dự thi chứng chỉ.
Vì vậy, vấn đề cần giải quyết không chỉ là duy trì hay loại bỏ điểm cộng, mà còn là xác định mức độ phù hợp của cơ chế ưu tiên với mục tiêu tuyển chọn người học. Một chính sách hợp lý cần làm rõ năng lực ngoại ngữ đóng góp như thế nào vào yêu cầu đầu vào của từng chương trình, đồng thời hạn chế tình trạng lợi thế từ chứng chỉ lấn át kết quả đánh giá những năng lực chuyên môn khác.
Tuy nhiên, từ góc nhìn của gia đình, việc thay đổi cơ chế xét tuyển còn liên quan đến quá trình chuẩn bị kéo dài nhiều năm. Bà Đồng Sen Nga, phụ huynh có con học lớp 12 tại Trường THPT Việt Nam – Ba Lan, Hà Nội, cho biết gia đình đã đầu tư cho các con học ngoại ngữ từ sớm. Trước thông tin có thể bỏ điểm cộng, con trai bà có phần bất ngờ nhưng vẫn tiếp tục ôn luyện cho kỳ thi IELTS dự kiến diễn ra vào tháng 12.
Theo bà Nga, mục tiêu học ngoại ngữ cần hướng đến năng lực sử dụng thực tế, thay vì chỉ phục vụ một kỳ tuyển sinh. Quan điểm này cho thấy thay đổi chính sách ưu tiên không nhất thiết làm mất đi động lực học tập, nếu người học hiểu rõ giá trị của ngoại ngữ đối với việc học đại học và định hướng nghề nghiệp.
Dù vậy, tác động của sự thay đổi không giống nhau đối với mọi học sinh. Bà Nguyễn Thị Hồng, một phụ huynh tại Hà Nội có con đang học lớp 12 và đã sở hữu chứng chỉ tiếng Anh, đồng tình với chủ trương bỏ điểm cộng nhưng cho rằng cần có lộ trình. Những điều chỉnh được công bố quá gần thời điểm tuyển sinh có thể khiến học sinh bị động khi kế hoạch học tập và lựa chọn phương thức xét tuyển đã được xác lập.
Từ những ý kiến này, có thể thấy công bằng tuyển sinh cần được xem xét trên cả hai phương diện: sự hợp lý trong cách đánh giá thí sinh và khả năng chủ động thích ứng với chính sách. Việc điều chỉnh cơ chế ưu tiên vì thế cần đi cùng thông tin rõ ràng về phạm vi, thời điểm và đối tượng áp dụng.
Lộ trình chính sách gắn với giá trị lâu dài của ngoại ngữ
Ngoại ngữ có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi điểm số tuyển sinh. Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số, khả năng sử dụng tiếng Anh tạo điều kiện để người học tiếp cận tài liệu chuyên ngành, công nghệ và môi trường làm việc quốc tế. Do đó, việc xem xét lại ưu tiên chứng chỉ cần được đặt trong mối liên hệ với mục tiêu phát triển năng lực học tập và chất lượng nguồn nhân lực.
Từ kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp tư vấn, đào tạo quản trị và tham gia định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên, bà Đồng Sen Nga cho biết những ứng viên có nền tảng ngoại ngữ tốt thường thể hiện sự chủ động trong tìm kiếm kiến thức và khả năng thích ứng với công việc. Tại doanh nghiệp của mình, bà dành sự ưu tiên nhất định, thậm chí miễn vòng phỏng vấn sơ bộ cho một số ứng viên có IELTS từ 6.0 đến 7.0.
Đây là kinh nghiệm tuyển dụng cụ thể của doanh nghiệp, không đồng nghĩa chứng chỉ có thể thay thế việc đánh giá toàn diện ứng viên. IELTS cung cấp một căn cứ tham khảo về năng lực tiếng Anh tại thời điểm dự thi; khả năng vận dụng ngoại ngữ vào học tập, giao tiếp chuyên môn và giải quyết công việc vẫn cần được xem xét trong những bối cảnh thực tế.
Sự phân biệt giữa chứng chỉ và năng lực sử dụng cũng có ý nghĩa đối với thiết kế chính sách tuyển sinh. Bỏ một hình thức cộng điểm không đồng nghĩa phủ nhận giá trị của ngoại ngữ. Ngược lại, việc ghi nhận ngoại ngữ sẽ thuyết phục hơn nếu gắn trực tiếp với yêu cầu của chương trình đào tạo và được thực hiện bằng những tiêu chí minh bạch, có thể giải thích.
PGS.TS Nguyễn Thanh Chương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải, cho rằng chất lượng đầu vào hiện chưa đồng đều giữa các ngành và giữa các trường, trong khi điểm thưởng và cách quy đổi chứng chỉ còn chênh lệch đáng kể. Theo ông, cần có quy định thống nhất để bảo đảm chất lượng chung của hệ thống.
Đối với những ngành cần ngoại ngữ, ông Chương đề xuất có thể quy định một ngưỡng chứng chỉ chung, chẳng hạn IELTS từ 7.0, làm căn cứ xem xét điểm thưởng. Với những ngành mà ngoại ngữ là yêu cầu trực tiếp, có thể đưa năng lực này thành một nội dung xét tuyển thay vì chỉ quy đổi thành điểm cộng. Đây là các phương án được đề xuất để thảo luận, chưa phải quy định đã được ban hành.
Dù lựa chọn cách tiếp cận nào, lộ trình thực hiện cần đủ rõ để học sinh, phụ huynh và cơ sở đào tạo có thời gian chuẩn bị. Chính sách cần xác định cụ thể khóa tuyển sinh bắt đầu áp dụng, cách xử lý chứng chỉ trong giai đoạn chuyển tiếp và những hình thức ghi nhận năng lực ngoại ngữ còn được sử dụng. Nếu tiếp tục cho phép quy đổi hoặc đưa chứng chỉ vào xét tuyển, căn cứ và giới hạn áp dụng cũng cần được công bố nhất quán.
Bên cạnh việc hoàn thiện quy định, công tác hướng dẫn cần giúp học sinh hiểu đúng mục tiêu điều chỉnh. Thông điệp chính sách nên làm rõ rằng cơ chế ưu tiên tuyển sinh có thể thay đổi, nhưng năng lực ngoại ngữ vẫn là một nguồn lực quan trọng cho quá trình học tập và phát triển nghề nghiệp. Cách truyền đạt này góp phần hạn chế tâm lý học chỉ để lấy chứng chỉ hoặc cho rằng ngoại ngữ mất giá trị khi không còn được cộng điểm.
Về lâu dài, bảo đảm công bằng còn đòi hỏi quan tâm đến cơ hội học ngoại ngữ của học sinh có điều kiện kinh tế và môi trường giáo dục khác nhau. Cải thiện chất lượng giảng dạy trong nhà trường, mở rộng khả năng tiếp cận học liệu và tăng cơ hội thực hành sẽ giúp năng lực ngoại ngữ được phát triển rộng rãi hơn. Khi đó, việc điều chỉnh ưu tiên IELTS mới có thể đồng thời phục vụ hai mục tiêu: nâng cao tính hợp lý của tuyển sinh và khuyến khích người học đầu tư vào năng lực thực chất.
Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:
– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.
– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.
– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.
– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.
– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.
– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.
cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.

