Chính sách miễn toàn bộ học phí, chi phí ký túc xá và hỗ trợ sinh hoạt cho người học ngành điện hạt nhân được kỳ vọng tạo động lực thu hút nhân lực trẻ vào một lĩnh vực có yêu cầu chuyên môn đặc biệt cao. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hỗ trợ tài chính chỉ là điều kiện khởi đầu. Để bảo đảm nguồn nhân lực phục vụ các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược dài hạn, đồng bộ và đủ sức giữ chân đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học cũng như chuyên gia an toàn hạt nhân.

Sinh viên tham gia chương trình thực tập, đào tạo thực hành tại cơ sở nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt
Sinh viên tham gia chương trình thực tập, đào tạo thực hành tại cơ sở nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt

Chính sách ưu đãi mở đường cho chiến lược thu hút người học

Chính phủ mới đây ban hành Nghị định 176/2026/NĐ-CP, quy định một số chính sách ưu đãi dành cho giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân. Theo đó, sinh viên theo học ngành điện hạt nhân được miễn hoàn toàn học phí và chi phí ký túc xá, đồng thời được cấp sinh hoạt phí hằng tháng bằng hai lần mức lương cơ sở, với thời gian hỗ trợ tối đa 10 tháng mỗi năm.

Đi kèm với quyền lợi này, người học phải cam kết làm việc cho chủ đầu tư hoặc tại các nhà máy điện hạt nhân sau khi tốt nghiệp. Đây được xem là cơ chế gắn chính sách đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực, hạn chế tình trạng sinh viên được hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước nhưng sau đó chuyển sang những lĩnh vực khác.

Hiện có 11 cơ sở giáo dục và nghiên cứu tham gia Đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035. Danh sách gồm Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM, Trường Đại học Điện lực, Trường Đại học Đà Lạt, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Cao đẳng Điện lực TP.HCM và Trường Cao đẳng Dầu khí Việt Nam.

Việc huy động đồng thời các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu cho thấy đào tạo nhân lực điện hạt nhân không chỉ giới hạn ở một chuyên ngành đơn lẻ. Đây là lĩnh vực liên ngành, đòi hỏi sự tham gia của nhiều nhóm chuyên môn như vật lý hạt nhân, cơ khí, điện, tự động hóa, hóa học, vật liệu, xây dựng, công nghệ thông tin, quản lý kỹ thuật và an toàn bức xạ.

Theo TS Lê Văn Hồng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, một nhà máy điện hạt nhân có công suất khoảng 1.000 MW cần khoảng 1.000 lao động để duy trì hoạt động. Trong số đó, khoảng 200 đến 300 người trực tiếp tham gia vận hành, kiểm soát kỹ thuật và bảo đảm an toàn phải được đào tạo chuyên sâu về điện hạt nhân.

Con số này cho thấy nhu cầu nhân lực không chỉ lớn về quy mô mà còn rất cao về chất lượng. Các vị trí liên quan trực tiếp đến vận hành lò phản ứng, kiểm soát phóng xạ và xử lý sự cố đòi hỏi người lao động phải trải qua quá trình đào tạo dài, thực hành nghiêm ngặt và được kiểm tra năng lực thường xuyên.

Vì vậy, miễn học phí và bảo đảm cơ hội việc làm sau tốt nghiệp mới chỉ giải quyết một phần bài toán thu hút đầu vào. Về lâu dài, chính sách nhân lực phải bao phủ toàn bộ quá trình từ tuyển chọn, đào tạo, thực hành, cấp chứng chỉ, bố trí việc làm đến bồi dưỡng chuyên môn và phát triển nghề nghiệp.

Đối với người học, cam kết làm việc tại nhà máy sau tốt nghiệp cần đi kèm với những điều kiện rõ ràng về vị trí công tác, mức thu nhập, cơ hội thăng tiến, môi trường nghiên cứu và chế độ đãi ngộ. Nếu thiếu các chính sách đủ hấp dẫn, nguy cơ mất nhân lực sau thời gian cam kết hoặc dịch chuyển sang những ngành nghề có thu nhập tốt hơn vẫn có thể xảy ra.

Đặc biệt, nhân lực điện hạt nhân không chỉ phục vụ vận hành nhà máy. Việt Nam còn cần đội ngũ tham gia nghiên cứu, thiết kế, thẩm định công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, quản lý dự án, bảo đảm an ninh hạt nhân, xử lý chất thải phóng xạ và giám sát an toàn độc lập.

Do đó, chiến lược đào tạo cần hướng đến việc hình thành một hệ sinh thái nhân lực hoàn chỉnh. Trong hệ sinh thái này, các trường đại học chịu trách nhiệm đào tạo nền tảng, viện nghiên cứu phát triển năng lực chuyên sâu, doanh nghiệp cung cấp môi trường thực hành, còn cơ quan quản lý nhà nước xây dựng hành lang pháp lý và hệ thống kiểm soát an toàn.

Chuẩn bị đội ngũ chuyên gia cho giai đoạn vận hành 2030–2035

Tại tọa đàm về đào tạo nguồn nhân lực cho điện hạt nhân, TS Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nhấn mạnh rằng điện hạt nhân phản ánh trình độ khoa học và công nghệ của một quốc gia. Vì thế, việc chuẩn bị nguồn nhân lực phải được thực hiện theo lộ trình dài hạn, thay vì chỉ triển khai khi nhà máy sắp đi vào hoạt động.

Khác với nhiều ngành kỹ thuật thông thường, đào tạo kỹ sư điện hạt nhân thường kéo dài từ 5 đến 6 năm. Sinh viên phải tiếp cận khối lượng kiến thức lớn về toán học, vật lý, vật lý hạt nhân, vật lý nơtron, lý thuyết lò phản ứng, thủy nhiệt, truyền nhiệt, vật liệu, hóa học, cơ khí, điện và điều khiển tự động.

Bên cạnh năng lực chuyên môn, người học còn phải được hình thành văn hóa an toàn ở mức độ nghiêm ngặt. Trong lĩnh vực điện hạt nhân, một sai sót nhỏ trong vận hành, báo cáo hoặc tuân thủ quy trình đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, thái độ nghề nghiệp, tính kỷ luật và khả năng làm việc theo tiêu chuẩn phải được xem là cấu phần cốt lõi của chương trình đào tạo.

Dù nhu cầu nhân lực đang gia tăng, lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều khó khăn trong tuyển sinh và phát triển đội ngũ chuyên gia. Chương trình học dài, yêu cầu đầu vào cao, áp lực nghề nghiệp lớn và mức thu nhập chưa thật sự tương xứng khiến ngành này chưa đủ sức cạnh tranh với các lĩnh vực công nghệ đang phát triển nhanh.

Trong bối cảnh chương trình điện hạt nhân được tái khởi động, thiếu hụt nhân lực trở thành vấn đề cần giải quyết sớm. Nếu chờ đến khi dự án bước vào giai đoạn xây dựng hoặc vận hành mới đẩy mạnh đào tạo, hệ thống giáo dục sẽ không có đủ thời gian để chuẩn bị đội ngũ đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn và an toàn.

Trước đây, Việt Nam từng triển khai nhiều chương trình đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân trong nước, đồng thời cử cán bộ và sinh viên sang học tập tại những quốc gia có nền công nghệ điện hạt nhân phát triển. Tuy nhiên, sau thời gian dự án bị gián đoạn, một bộ phận nhân lực đã chuyển công tác hoặc không còn làm việc trực tiếp trong lĩnh vực này.

Theo TS Trần Chí Thành, bên cạnh đào tạo mới, cần rà soát và tập hợp những người từng được đào tạo về hạt nhân để tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và tái kết nối với chương trình quốc gia. Đây là nguồn nhân lực có nền tảng chuyên môn sẵn có, có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị nếu được đào tạo bổ sung phù hợp.

Các chương trình đào tạo cũng cần được thiết kế theo nhiều cấp độ và vị trí việc làm khác nhau. Một số nhóm cần theo học dài hạn để trở thành kỹ sư vận hành hoặc chuyên gia nghiên cứu, trong khi nhóm kỹ thuật viên, cán bộ quản lý và nhân sự hỗ trợ có thể tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn hoặc chương trình chuyển đổi chuyên môn.

Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là xây dựng đội ngũ chuyên gia pháp quy hạt nhân. Đây là lực lượng chịu trách nhiệm xây dựng tiêu chuẩn, thẩm định công nghệ, cấp phép, thanh tra và giám sát hoạt động của nhà máy một cách độc lập với đơn vị vận hành.

Để đảm nhiệm vai trò này, cán bộ pháp quy cần có trình độ chuyên môn sâu, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng nhận diện rủi ro. Việc cử chuyên gia sang học tập, thực hành hoặc làm việc tại các nhà máy điện hạt nhân ở nước ngoài được xem là giải pháp cần thiết để tích lũy kinh nghiệm mà trong nước hiện chưa thể cung cấp đầy đủ.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần xây dựng chương trình nghiên cứu cấp quốc gia về điện hạt nhân, tập trung vào những vấn đề như công nghệ lò phản ứng, phân tích an toàn, vật liệu hạt nhân, quản lý chất thải phóng xạ, ứng phó sự cố và tháo dỡ nhà máy sau khi kết thúc vòng đời.

Hoạt động nghiên cứu không chỉ phục vụ mục tiêu làm chủ công nghệ mà còn tạo môi trường phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và nghiên cứu sinh. Nếu thiếu các dự án nghiên cứu dài hạn, rất khó giữ chân chuyên gia giỏi trong lĩnh vực có yêu cầu đầu tư lớn và thời gian tích lũy chuyên môn kéo dài.

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam hiện đang xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh về công nghệ hạt nhân, phân tích an toàn và những chuyên ngành liên quan. Đây được kỳ vọng là lực lượng nòng cốt trong quá trình đào tạo chuyên gia đầu ngành, tham gia tư vấn, thẩm định và hỗ trợ vận hành các dự án điện hạt nhân trong tương lai.

PGS.TS Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực, cho rằng yếu tố con người là hàng rào an toàn quan trọng nhất của một nhà máy điện hạt nhân. Công nghệ hiện đại có thể giảm thiểu rủi ro, nhưng không thể thay thế hoàn toàn năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ vận hành.

Theo ông, nếu nhân lực không được đào tạo đầy đủ về kỹ thuật, văn hóa an toàn và xử lý tình huống, nguy cơ mất an toàn vẫn tồn tại dù nhà máy sử dụng công nghệ tiên tiến. Vì thế, đào tạo con người phải được triển khai song song, thậm chí đi trước quá trình xây dựng cơ sở vật chất.

Để chủ động chuẩn bị nhân lực, Trường Đại học Điện lực đã đề xuất hợp tác với các tập đoàn và tổ chức quốc tế như Mitsubishi, Hitachi và JINED nhằm xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu. Mô hình này hướng tới việc kết hợp nền tảng lý thuyết trong nước với kinh nghiệm thực tế, công nghệ và quy trình vận hành từ các quốc gia có ngành điện hạt nhân phát triển.

Mục tiêu của chương trình là đào tạo đội ngũ kỹ sư có thể đáp ứng yêu cầu vận hành Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 khi dự án đi vào hoạt động. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, sự hợp tác quốc tế cần đi kèm với cơ chế chuyển giao tri thức, phát triển giảng viên trong nước và xây dựng phòng thí nghiệm đạt chuẩn.

Theo đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, 11 cơ sở giáo dục trọng điểm sẽ tham gia đào tạo nhân lực quy mô lớn, hướng đến mục tiêu bảo đảm khả năng vận hành an toàn các nhà máy điện hạt nhân trong giai đoạn 2030–2035. Dự kiến đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 4.000 nhân lực trình độ cao phục vụ trực tiếp cho hai dự án Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Trong đó, khoảng 120 giảng viên chuyên ngành sẽ được đào tạo để đảm nhiệm công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý.

Trong giai đoạn 2031–2035, hoạt động đào tạo và bồi dưỡng sẽ tiếp tục được điều chỉnh theo nhu cầu thực tế của từng nhà máy. Điều này đòi hỏi cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và chủ đầu tư phải phối hợp chặt chẽ trong việc dự báo số lượng nhân lực, xác định tiêu chuẩn năng lực và bố trí việc làm.

Chính sách miễn học phí vì thế cần được xem là bước khởi đầu trong một hệ thống giải pháp rộng hơn. Để thu hút và giữ chân nhân lực, Việt Nam cần bảo đảm mức thu nhập cạnh tranh, môi trường làm việc chuyên nghiệp, lộ trình nghề nghiệp rõ ràng, điều kiện nghiên cứu hiện đại và cơ hội tiếp cận công nghệ quốc tế.

Khi những yếu tố này được triển khai đồng bộ, cam kết làm việc sau tốt nghiệp mới có thể trở thành sự lựa chọn nghề nghiệp lâu dài, thay vì chỉ là nghĩa vụ gắn với chính sách hỗ trợ. Đây cũng là điều kiện then chốt để hình thành đội ngũ nhân lực đủ năng lực vận hành an toàn, làm chủ công nghệ và phát triển ngành điện hạt nhân một cách bền vững.

Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:

– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.

– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.

– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.

– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.

– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.

– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.

cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.