
Sau hơn một thập niên vận hành mô hình kỳ thi “hai trong một”, đề xuất tách kỳ thi tốt nghiệp THPT khỏi hoạt động tuyển sinh đại học tiếp tục trở thành chủ đề được quan tâm. Một bên cho rằng việc phân định rõ chức năng của từng kỳ thi sẽ giúp đánh giá đúng chuẩn đầu ra phổ thông và trao quyền tuyển chọn người học cho các trường đại học. Ở chiều ngược lại, nhiều ý kiến cảnh báo phương án này có thể làm gia tăng chi phí, áp lực thi cử và bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục mà chưa chắc xử lý được những hạn chế hiện nay.

Cuộc tranh luận được đặt ra trong bối cảnh xã hội tiếp tục quan tâm đến độ phân hóa của đề thi, áp lực điểm số, tính minh bạch của kết quả và những vụ việc bất thường liên quan đến công tác tổ chức thi. Đề xuất gần đây của ông Nguyễn Đắc Vinh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, về việc xem xét tách riêng hai kỳ thi đã mở ra nhiều góc nhìn khác nhau từ giới quản lý, chuyên gia giáo dục và đại diện các cơ sở đào tạo.
Phân định chức năng đánh giá phổ thông và tuyển chọn đại học
Năm 2015 đánh dấu một thay đổi lớn trong công tác thi cử khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức kỳ thi THPT quốc gia với hai mục tiêu đồng thời: xét công nhận tốt nghiệp THPT và cung cấp dữ liệu phục vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng. Sau nhiều lần điều chỉnh về tên gọi, cấu trúc và phương thức tổ chức, kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay vẫn tiếp tục đảm nhiệm cả hai chức năng.
Mô hình này từng được kỳ vọng giúp giảm số lần thi, tiết kiệm chi phí và hạn chế tình trạng thí sinh phải di chuyển đến nhiều địa điểm tuyển sinh khác nhau. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm triển khai, những khác biệt về mục tiêu giữa hai hoạt động ngày càng bộc lộ rõ.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT về bản chất nhằm xác định học sinh có đáp ứng yêu cầu cơ bản của chương trình giáo dục phổ thông hay không. Đây là kỳ thi dành cho số đông, tập trung đánh giá chuẩn đầu ra và mức độ hoàn thành chương trình của người học sau 12 năm học tập.
Trong khi đó, tuyển sinh đại học là quá trình lựa chọn thí sinh phù hợp với đặc điểm đào tạo, yêu cầu chuyên môn và định hướng phát triển của từng cơ sở giáo dục. Một số ngành có mức độ cạnh tranh cao cần công cụ đánh giá đủ mạnh để phân biệt rõ năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức, tố chất chuyên môn và mức độ phù hợp của thí sinh.
PGS.TS Bùi Hoài Thắng, Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho rằng mục tiêu của tuyển sinh đại học không đơn thuần là hoàn thành chỉ tiêu. Các trường cần tìm được người học có nền tảng phù hợp và có khả năng theo đuổi chương trình đào tạo trong thời gian dài.
Theo ông, yêu cầu một đề thi tốt nghiệp mang tính phổ cập phải đồng thời tạo ra mức độ phân hóa rất cao để phục vụ tuyển sinh là chưa thật sự hợp lý về mặt sư phạm. Nếu đề thi quá dễ, các trường đại học khó phân loại thí sinh ở nhóm điểm cao. Ngược lại, nếu đề được thiết kế quá khó để đáp ứng yêu cầu tuyển chọn, chức năng đánh giá chuẩn đầu ra phổ thông có thể bị ảnh hưởng.
Việc một kỳ thi phải đáp ứng hai nhiệm vụ khác nhau cũng tạo ra áp lực lớn đối với quá trình xây dựng đề. Đề thi vừa phải phù hợp với đại đa số học sinh, vừa cần có những câu hỏi đủ khó để phân loại thí sinh đăng ký vào các ngành cạnh tranh. Sự dung hòa này không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả như mong muốn.
PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, nhận định mô hình “hai trong một” đã bộc lộ một số giới hạn sau thời gian dài triển khai. Việc dựa quá nhiều vào kết quả của một kỳ thi có thể khiến học sinh tiếp tục rơi vào tâm lý “một lần thi quyết định”, từ đó thúc đẩy học lệch, luyện thi và tập trung quá mức vào điểm số.
Một kỳ thi chuẩn hóa chủ yếu đánh giá kiến thức và kỹ năng làm bài trong một khoảng thời gian nhất định. Trong khi đó, những năng lực quan trọng đối với giáo dục đại học như tư duy phản biện, khả năng sáng tạo, năng lực nghiên cứu, giao tiếp hoặc giải quyết vấn đề thực tiễn khó được phản ánh đầy đủ chỉ qua một bài thi.
Trên thực tế, nhiều trường đại học đã chủ động phát triển các phương thức tuyển sinh riêng như kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, xét học bạ, phỏng vấn, xét hồ sơ năng lực hoặc kết hợp nhiều tiêu chí. Sự đa dạng này cho thấy các cơ sở đào tạo ngày càng ít phụ thuộc tuyệt đối vào điểm thi tốt nghiệp THPT.
Từ góc nhìn đó, một số chuyên gia cho rằng kỳ thi tốt nghiệp nên được trả về đúng chức năng kiểm tra chuẩn đầu ra phổ thông. Các trường đại học cần được trao quyền lớn hơn trong việc lựa chọn công cụ tuyển sinh phù hợp với đặc điểm ngành nghề, triết lý đào tạo và mức độ cạnh tranh của từng chương trình.
Phương án này có thể giúp giảm mâu thuẫn trong thiết kế đề thi và thúc đẩy quyền tự chủ tuyển sinh. Tuy nhiên, quyền tự chủ chỉ phát huy hiệu quả khi các trường xây dựng được phương thức đánh giá minh bạch, có cơ sở khoa học và không tạo ra quá nhiều rào cản đối với thí sinh.
Nguy cơ gia tăng áp lực và chi phí khi tổ chức hai kỳ thi riêng
Dù đồng tình rằng hai hoạt động có mục tiêu khác nhau, PGS.TS Đỗ Văn Dũng cho rằng quay trở lại mô hình hai kỳ thi tách biệt như trước đây chưa chắc là phương án tối ưu. Việc tổ chức thêm một kỳ thi tuyển sinh đại học có thể làm tăng chi phí xã hội, thời gian đi lại và áp lực đối với học sinh, phụ huynh.
Nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức một kỳ thi tuyển sinh đại học chung trên toàn quốc, thí sinh sẽ phải tham dự ít nhất hai đợt thi trong thời gian ngắn. Nếu giao từng trường hoặc từng nhóm trường tự tổ chức, hệ thống có thể xuất hiện nhiều kỳ thi riêng, khiến học sinh phải đăng ký, ôn tập và di chuyển liên tục.
Những thí sinh sinh sống tại đô thị lớn thường có điều kiện tiếp cận địa điểm thi, trung tâm luyện thi và thông tin tuyển sinh thuận lợi hơn. Trong khi đó, học sinh vùng sâu, vùng xa hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn có thể chịu thêm chi phí đi lại, ăn ở và lệ phí dự thi.
Do đó, tách kỳ thi không mặc nhiên đồng nghĩa với giảm áp lực. Trong một số trường hợp, áp lực có thể chuyển từ một kỳ thi chung sang nhiều kỳ thi khác nhau, mỗi kỳ thi có cấu trúc, yêu cầu kiến thức và cách thức đăng ký riêng.
PGS.TS Trần Mạnh Hà, Trưởng phòng Đào tạo Học viện Ngân hàng, cho rằng kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay vẫn có giá trị như một bài thi chuẩn hóa quy mô quốc gia. Kết quả vừa phục vụ công nhận tốt nghiệp, vừa tạo ra một chuẩn tham chiếu tương đối thống nhất để các trường đại học sử dụng trong xét tuyển.
Theo ông, nếu tổ chức thêm một kỳ thi tuyển sinh đại học có nội dung tương tự, thí sinh vẫn phải thực hiện hai lần đánh giá mà sự khác biệt về bản chất có thể không lớn. Trong khi đó, nếu các trường tự tổ chức hoàn toàn, hệ thống tuyển sinh có nguy cơ trở nên phân tán, phức tạp và tốn kém hơn.
Các kỳ thi đánh giá năng lực và đánh giá tư duy hiện đang mở rộng, nhưng quy mô vẫn thấp hơn nhiều so với kỳ thi tốt nghiệp THPT. Kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2026 ghi nhận hơn 100.000 lượt dự thi, trong khi mỗi năm cả nước có hơn một triệu thí sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp.
Sự chênh lệch này cho thấy các bài thi riêng hiện chưa thể ngay lập tức trở thành phương thức tuyển sinh chủ đạo trên phạm vi toàn quốc. Khả năng tiếp cận địa điểm thi, số lượng đợt thi, hạ tầng công nghệ và chi phí tham dự vẫn là những vấn đề cần tính toán kỹ.
Một số chuyên gia cũng cho rằng việc tách kỳ thi không thể tự động loại bỏ tiêu cực. Thầy Vũ Khắc Ngọc, người từng phát hiện những dấu hiệu bất thường trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 tại Hà Giang, nhận định vấn đề cốt lõi nằm ở phương thức tổ chức, giám sát và công khai dữ liệu, thay vì chỉ nằm ở số lượng kỳ thi.
Theo ông, kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay không chỉ có ý nghĩa xét công nhận tốt nghiệp hoặc hỗ trợ tuyển sinh. Với quy mô toàn quốc, kỳ thi còn tạo ra một hệ thống dữ liệu lớn phản ánh tương đối toàn diện chất lượng dạy và học giữa các địa phương, trường học và môn học.
Phổ điểm có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện những biến động bất thường, so sánh kết quả giữa các khu vực và đánh giá tác động của chính sách giáo dục. Dữ liệu này cũng hỗ trợ các địa phương điều chỉnh hoạt động chuyên môn, phương pháp giảng dạy và công tác kiểm tra, đánh giá.
Tỷ lệ tốt nghiệp trên 95% mỗi năm không đồng nghĩa kỳ thi đã mất đi ý nghĩa. Trong bất kỳ hệ thống nào, ngay cả khi đa số người học đạt chuẩn, việc kiểm tra đầu ra vẫn cần thiết để xác nhận chất lượng và phát hiện những trường hợp bất thường.
Những dấu hiệu như phổ điểm khác biệt quá lớn, số lượng điểm tuyệt đối tăng đột biến hoặc kết quả không tương xứng với quá trình học tập thường chỉ được nhận diện khi dữ liệu được tổng hợp và công khai trên quy mô rộng. Đây là lợi thế mà không phải kỳ thi riêng lẻ nào cũng có thể tạo ra.
TS Lê Trường Tùng, quyền điều hành Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, cho rằng cuộc thảo luận không nên dừng ở câu hỏi lựa chọn một hay hai kỳ thi. Vấn đề quan trọng hơn là xác định rõ mục tiêu của việc cải cách và những hạn chế cụ thể cần được giải quyết.
Nếu tách thành hai kỳ thi nhưng phương thức ra đề, tổ chức, giám sát và xử lý dữ liệu không thay đổi, những tiêu cực cũ vẫn có thể tiếp tục xuất hiện. Ngược lại, một kỳ thi chung vẫn có thể phát huy hiệu quả nếu được tổ chức minh bạch, đề thi phù hợp và các trường đại học có thêm nhiều công cụ tuyển sinh bổ trợ.
Từ các ý kiến khác nhau, có thể thấy bài toán hiện nay không đơn giản là lựa chọn giữa “tách” và “gộp”. Mỗi phương án đều có lợi ích và rủi ro riêng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hơn một triệu thí sinh, nguồn lực của gia đình, mức độ tự chủ của các trường và khả năng quản lý của hệ thống giáo dục.
Một hướng tiếp cận phù hợp có thể là tiếp tục duy trì kỳ thi tốt nghiệp THPT với chức năng đánh giá chuẩn đầu ra và cung cấp dữ liệu tham chiếu, đồng thời cho phép các trường đại học sử dụng thêm những công cụ tuyển sinh khác khi cần thiết. Với các ngành có mức độ cạnh tranh cao, nhà trường có thể kết hợp điểm thi tốt nghiệp với bài thi riêng, học bạ, phỏng vấn hoặc hồ sơ năng lực.
Cách tiếp cận kết hợp sẽ giúp hạn chế việc tổ chức quá nhiều kỳ thi bắt buộc, nhưng vẫn bảo đảm quyền tự chủ và nhu cầu phân loại thí sinh của các trường đại học. Tuy nhiên, để mô hình này vận hành hiệu quả, các phương thức tuyển sinh cần được chuẩn hóa, công khai và thiết kế theo hướng tạo cơ hội tiếp cận công bằng cho học sinh ở mọi khu vực.
Cuộc tranh luận về mô hình thi cử vì thế cần được đặt trong một chiến lược dài hạn, thay vì thay đổi theo từng sự cố hoặc áp lực nhất thời. Mục tiêu cuối cùng không phải là giảm hay tăng số kỳ thi, mà là xây dựng một hệ thống đánh giá chính xác, minh bạch, tiết kiệm và phù hợp với nhu cầu phát triển của cả giáo dục phổ thông lẫn giáo dục đại học.
Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:
– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.
– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.
– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.
– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.
– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.
– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.
cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.

