
Kết quả phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố cho thấy sự thay đổi đáng chú ý trong tương quan điểm số giữa các tổ hợp xét tuyển đại học truyền thống. Không chỉ phản ánh mức độ phân hóa của đề thi, bảng bách phân vị còn cho thấy lợi thế của từng tổ hợp có sự khác biệt rõ rệt theo từng phân khúc điểm. Những biến động này được dự báo sẽ tác động trực tiếp đến mặt bằng điểm chuẩn đại học năm 2026, đặc biệt ở các nhóm ngành có mức độ cạnh tranh cao như y dược, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và khoa học xã hội.

Tương quan phổ điểm thay đổi: C00 giảm nhiệt, nhóm tự nhiên gia tăng lợi thế
Theo dữ liệu phổ điểm các môn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 và 5 tổ hợp xét tuyển truyền thống gồm A00, A01, B00, C00 và D01, mặt bằng điểm số giữa các khối thi đã có sự phân hóa rõ rệt so với năm 2025. Nếu nhìn từ điểm trung bình, có thể thấy các tổ hợp được chia thành hai nhóm xu hướng đối lập. Một nhóm ghi nhận mức điểm trung bình tăng, chủ yếu thuộc các tổ hợp khoa học tự nhiên và tổ hợp có yếu tố kết hợp; nhóm còn lại có điểm trung bình giảm, trong đó đáng chú ý nhất là tổ hợp C00.
Tổ hợp B00, gồm Toán, Hóa học và Sinh học, là tổ hợp có mức tăng nổi bật nhất. Điểm trung bình tăng từ 18,29 điểm năm 2025 lên 19,69 điểm năm 2026. Số thí sinh đạt điểm tuyệt đối 30/30 cũng tăng từ 1 lên 4 em. Đây là tín hiệu cho thấy mặt bằng điểm của tổ hợp này đã được nâng lên đáng kể, đồng thời dự báo điểm chuẩn các ngành sử dụng B00, đặc biệt là y khoa, răng hàm mặt, dược học, công nghệ sinh học và các ngành sức khỏe, có thể tiếp tục ở mức cao.
Tổ hợp A00, gồm Toán, Vật lý và Hóa học, cũng ghi nhận mức tăng nhẹ khi điểm trung bình đạt 19,41 điểm. Tổ hợp D01, gồm Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh, đạt điểm trung bình 19,01 điểm. Dù mức tăng không quá lớn, hai tổ hợp này vẫn duy trì vai trò quan trọng trong xét tuyển đại học do được nhiều trường sử dụng cho các ngành kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, quản trị, tài chính, logistics, truyền thông và ngôn ngữ.
Ở chiều ngược lại, tổ hợp A01 và C00 có xu hướng giảm điểm. Trong đó, tổ hợp C00, gồm Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý, giảm mạnh nhất khi điểm trung bình từ 19,70 điểm năm 2025 xuống còn 17,23 điểm năm 2026. Mức giảm này cho thấy đề thi các môn khoa học xã hội và Ngữ văn năm nay có khả năng phân hóa cao hơn, đồng thời làm thu hẹp đáng kể số lượng thí sinh đạt điểm cao ở tổ hợp truyền thống vốn từng có lợi thế lớn trong mùa tuyển sinh trước.
Khi quan sát hình dạng của các biểu đồ phổ điểm, sự khác biệt giữa các tổ hợp càng thể hiện rõ hơn. Đối với A00, phổ điểm có xu hướng lệch về phía điểm cao, với vùng tập trung lớn quanh khoảng 22-23 điểm. Điều này phản ánh số lượng thí sinh đạt mức khá giỏi khá lớn, từ đó tạo áp lực cạnh tranh mạnh ở các ngành tốp đầu. Với B00, dù quy mô thí sinh thấp hơn so với các tổ hợp khác, phổ điểm lại lệch phải rõ rệt và có đỉnh quanh mức 21-22 điểm. Đây là cơ sở để dự báo các ngành y dược và khoa học sức khỏe có thể tiếp tục duy trì điểm chuẩn cao trong năm 2026.
Trong khi đó, D01 vẫn là tổ hợp có quy mô thí sinh lớn nhất, nhưng phổ điểm tập trung chủ yếu quanh mức 18-19 điểm. Hình dạng phổ điểm của tổ hợp này tương đối cân bằng, cho thấy khả năng phân hóa đều hơn giữa các nhóm thí sinh. Trái lại, C00 có đỉnh phổ điểm dịch chuyển về phía thấp hơn, tập trung nhiều ở khoảng 15-17 điểm. Sự suy giảm này khiến nguồn tuyển ở phân khúc từ 24 điểm trở lên trở nên hạn chế hơn so với năm trước.
Ngoài yếu tố điểm số, quy mô thí sinh đăng ký theo từng tổ hợp cũng góp phần tác động đến dự báo điểm chuẩn. D01 tuy vẫn giữ vị trí tổ hợp có số lượng thí sinh đông đảo nhất nhưng số lượng có xu hướng giảm. C00 cũng ghi nhận sự sụt giảm về quy mô do nhiều trường đại học không còn ưu tiên hoặc không xét tuyển bằng tổ hợp này ở một số ngành. Khi số lượng thí sinh giảm đi cùng với phổ điểm giảm sâu, điểm chuẩn các ngành xét tuyển C00 được dự báo có thể hạ nhiệt đáng kể.
Ngược lại, A00 chứng kiến lượng thí sinh tăng đáng kể, cho thấy xu hướng lựa chọn các tổ hợp gắn với khoa học, công nghệ, kỹ thuật và các ngành STEM ngày càng rõ rệt. Khi số lượng thí sinh tăng đồng thời phổ điểm dịch chuyển về phía điểm cao, áp lực cạnh tranh ở các ngành xét tuyển bằng A00 có thể sẽ lớn hơn. Điều này đặc biệt đáng chú ý với các ngành kỹ thuật, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, khoa học dữ liệu, tài chính định lượng và một số ngành kinh tế có yêu cầu nền tảng Toán tốt.
Bách phân vị cho thấy B00 vượt trội ở nhóm điểm cao, D01 chỉ lợi thế ở phân khúc thấp
Bên cạnh phổ điểm, bảng bách phân vị do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố là cơ sở quan trọng để nhìn rõ hơn vị trí tương đối của thí sinh trong từng tổ hợp xét tuyển. Bách phân vị là chỉ số thống kê chia tập dữ liệu thành 100 phần bằng nhau, cho biết một mức điểm cụ thể đang nằm ở vị trí nào so với toàn bộ thí sinh trong cùng tổ hợp. Vì vậy, bảng bách phân vị không chỉ phản ánh điểm tuyệt đối, mà còn cho thấy mức độ cạnh tranh thực tế giữa các nhóm thí sinh.
Ở phân khúc điểm dưới trung bình, tương ứng khoảng bách phân vị từ 1 đến dưới 18, tổ hợp D01 có lợi thế rõ rệt. Tại cùng một mức bách phân vị, điểm số của D01 thường cao hơn các tổ hợp còn lại. Chẳng hạn, ở bách phân vị 10, D01 đạt khoảng 15 điểm, trong khi C00 chỉ đạt 11,85 điểm. Các tổ hợp tự nhiên như A00, A01 và B00 nằm ở nhóm giữa, với mức điểm dao động khoảng 13,10 đến 13,75 điểm. Khoảng cách giữa tổ hợp cao nhất và thấp nhất ở phân khúc này lên tới hơn 3 điểm, cho thấy sự khác biệt đáng kể về mặt bằng điểm ở nhóm thí sinh có kết quả thấp.
Tuy nhiên, khi bước sang phân khúc điểm trung bình đến khá, tương ứng khoảng bách phân vị 18-75, cục diện bắt đầu thay đổi. Lợi thế của D01 giảm dần, trong khi các tổ hợp tự nhiên vươn lên rõ rệt. Ở bách phân vị 50, tức vị trí trung vị, B00 đạt 19,95 điểm và dẫn đầu trong 5 tổ hợp. A00 xếp ngay sau với 19,75 điểm. D01 lùi xuống vị trí thứ ba với 19,00 điểm, tiếp theo là A01 với 18,50 điểm. C00 tiếp tục ở vị trí thấp nhất khi chỉ đạt 17,25 điểm.
Diễn biến này cho thấy B00 và A00 có mặt bằng điểm mạnh hơn ở nhóm thí sinh trung bình khá trở lên. Khoảng cách giữa tổ hợp có điểm cao nhất là B00 và tổ hợp thấp nhất là C00 ở bách phân vị trung vị vào khoảng 2,7 điểm. Mức chênh lệch này tuy thấp hơn so với phân khúc điểm dưới trung bình, nhưng vẫn đủ lớn để ảnh hưởng đến cách các trường đại học xác định ngưỡng điểm trúng tuyển.
Ở phân khúc điểm khá giỏi đến giỏi, tương ứng các bách phân vị cao từ 75 đến 99, sự phân hóa diễn ra mạnh nhất. B00 thể hiện ưu thế vượt trội khi đạt 26,50 điểm ở bách phân vị 95 và lên tới 28,25 điểm ở bách phân vị 99. Đây là mức điểm rất cao, phản ánh sự tập trung lớn của thí sinh có năng lực tốt trong tổ hợp này. A00 giữ vị trí thứ hai với 25,75 điểm ở bách phân vị 95 và 27,50 điểm ở bách phân vị 99.
Đáng chú ý, D01, tổ hợp từng dẫn đầu ở phân khúc điểm thấp, lại không còn giữ lợi thế khi bước vào nhóm điểm cao. Ở bách phân vị 99, D01 chỉ đạt 25,75 điểm, bằng với C00 và thấp hơn B00 tới 2,5 điểm. Sự đảo chiều này cho thấy không thể đánh giá lợi thế của một tổ hợp chỉ dựa trên điểm trung bình chung, mà cần đặt trong từng phân khúc cụ thể của bảng bách phân vị.
Từ góc nhìn tuyển sinh đại học, điều này có ý nghĩa rất quan trọng. Với những ngành có điểm chuẩn cao, đặc biệt là nhóm ngành y dược, công nghệ, kỹ thuật, khoa học dữ liệu và một số ngành cạnh tranh lớn, B00 và A00 có thể tạo ra mặt bằng điểm chuẩn cao hơn do nguồn thí sinh điểm cao dồi dào hơn. Ngược lại, với những ngành sử dụng C00 hoặc D01, đặc biệt ở nhóm điểm cao, điểm chuẩn có thể không tăng mạnh như các tổ hợp tự nhiên, thậm chí có khả năng giảm ở một số ngành nếu nguồn tuyển điểm cao bị thu hẹp.
Nhận định về A00, TS Phạm Kim Thư, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị, cho rằng đây vẫn là tổ hợp nền tảng trong tuyển sinh đại học, được nhiều trường sử dụng cho các ngành kỹ thuật, công nghệ, y dược và khoa học tự nhiên. Điểm trung bình A00 năm 2026 đạt 19,41/30, tăng nhẹ so với mức 19,37 của năm 2025. Tuy nhiên, trung vị tăng từ 19,25 lên 19,75, cho thấy phần đông thí sinh trong tổ hợp này có kết quả tốt hơn năm trước.
Một điểm đáng chú ý là số thí sinh đạt 30/30 ở A00 giảm mạnh từ 8 xuống còn 1, cho thấy đề thi có khả năng phân hóa tốt hơn ở nhóm điểm tuyệt đối. Đồng thời, không có thí sinh bị điểm 0 trong cả hai năm, phản ánh chất lượng tối thiểu của nhóm thí sinh dự thi tổ hợp này vẫn được duy trì.
Sự biến động trong từng môn thành phần cũng cho thấy bức tranh không hoàn toàn đồng đều. Môn Toán năm 2026 có sự cải thiện rõ rệt khi điểm trung bình tăng, tỷ lệ điểm dưới 5 giảm từ 56,4% xuống còn 38,0%, trong khi tỷ lệ điểm từ 7 trở lên tăng từ 12,2% lên 29,5%. Đặc biệt, số thí sinh đạt điểm 10 môn Toán tăng từ 513 lên 4.208 em, tức tăng gần 8,2 lần. Điều này có thể cho thấy đề Toán năm 2026 thuận lợi hơn so với năm 2025, hoặc chất lượng học tập môn Toán của thí sinh đã có sự cải thiện đáng kể.
Trái lại, môn Vật lý có biến động theo hướng khó hơn. Điểm trung bình giảm từ 6,99 xuống còn 5,56. Tỷ lệ điểm dưới 5 tăng từ 9,8% lên 39,4%, trong khi tỷ lệ điểm từ 7 trở lên giảm từ 53,7% xuống 26,1%. Số thí sinh đạt điểm 10 cũng giảm rất mạnh, từ 3.929 em xuống còn 189 em. Đây là môn có mức biến động lớn nhất trong ba môn của tổ hợp A00, cho thấy đề thi Vật lý năm 2026 có độ phân hóa cao hơn hoặc đã được điều chỉnh theo hướng đánh giá năng lực sâu hơn.
Trong khi đó, môn Hóa học tương đối ổn định hơn, góp phần giữ mặt bằng điểm A00 không biến động quá mạnh. Theo TS Thư, việc số lượng thí sinh lựa chọn A00 tăng khoảng 8% so với năm 2025 cho thấy xu hướng quan tâm đến các khối ngành STEM ngày càng rõ nét. Đây cũng là tín hiệu phù hợp với nhu cầu nhân lực trong bối cảnh các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, dữ liệu, tự động hóa và khoa học ứng dụng đang phát triển mạnh.
Bảng bách phân vị năm 2026 cho thấy lợi thế xét tuyển không còn phân bố đồng đều giữa các tổ hợp. D01 có ưu thế ở phân khúc điểm thấp, B00 vươn lên mạnh ở nhóm điểm trung bình khá và đặc biệt vượt trội ở nhóm điểm cao, trong khi A00 tiếp tục duy trì vị thế ổn định ở các ngành có tính cạnh tranh lớn. Ngược lại, C00 giảm nhiệt rõ rệt cả về điểm trung bình lẫn nguồn thí sinh điểm cao. Những biến động này sẽ là cơ sở quan trọng để thí sinh điều chỉnh chiến lược đăng ký nguyện vọng, đồng thời giúp các trường đại học dự báo sát hơn mặt bằng điểm chuẩn trong mùa tuyển sinh năm 2026.
Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển giáo dục, StudyCare Education tự hào là đơn vị hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ học thuật, đảm bảo sự vững chắc về nền tảng kiến thức. Nếu có bất kỳ khó khăn nào và cần được hỗ trợ ngay lập tức về vấn đề học tập, ôn luyện, hãy liên hệ ngay với StudyCare Education để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình từ những giảng viên xuất sắc nhất của chúng tôi:
– Thầy Nguyễn Công Thành: Tiến sĩ Tài chính Quốc Tế – RMIT University 🇦🇺 (Top 223 QS World University Rankings), Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam 🇳🇱 (Top 197 QS World University Rankings), Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội 🇻🇳.
– Cô Phạm Thị Anh Thư: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University (học bổng toàn phần 100%), Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng – Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM, Cử nhân Chuyên ngành Giảng dạy Ngôn ngữ Anh (xếp loại Giỏi) – Đại học Mở Hà Nội, T.E.S.O.L. certificate (High Distinction) – Advanced College of Languages and Training Canada 🇨🇦.
– Thầy Trần Lê Khang: Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tài chính – RMIT University, Thạc sĩ Kinh tế học – Erasmus University Rotterdam, TOEIC 980 điểm, IELTS 8.5.
– Thầy Nguyễn Hoàng Phú: Thạc sĩ Kinh tế Phát triển – Erasmus University Rotterdam, Cử nhân ngành Kinh tế Tài chính – RMIT University, Giảng viên các chương trình chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh trường Đại học FPT.
– Thầy Phạm Hữu Vinh: Nghiên cứu sinh Bác sĩ Chuyên khoa I – Đại học Y Dược TP.HCM, Cử nhân Y Khoa – Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.
– Thầy Nguyễn Thanh Liêm: Tiến sĩ Kinh tế – Đại học Kinh tế Luật (ĐHQG HCM), Thạc sĩ Khoa học Tài chính Kế toán – Đại học Bangor (Học bổng toàn phần tại Anh Quốc), Cử nhân Kinh tế Đối ngoại, Đại học Quốc gia TP.HCM.
cùng rất nhiều CB-GV-NV xuất sắc khác tại StudyCare Education.

